Tue05222012

Cập nhật lần cuối07:11:35 PM GMT

Untitled Document
Đường dây nóng: 0913 325 043. Email: tapchivanhoanghean@yahoo.com

Chúa Trịnh Khải (Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật)

I. Án năm canh tử Cách đây hai mươi nhăm ba mươi năm, quãng đất giữa những con đường Phổ Nhi (Rue Colomb)[1], con đường Rollandes[2], sau phố Hàng Lọng (Route Mandarine) có một cái hồ tục gọi là Hồ Tây Cú. Phía tây và phía bắc hồ, có hai khu đất hoang, không ra vườn, không ra bãi cỏ, đất mà chữ Pháp có tiếng gọi rất đúng là terrain vague(đất vu vơ, không nhất định gọi là gì được). Hồi hai mươi nhăm năm trước đây, trứ giả còn là một thằng bé lên mười tuổi, đã từng chơi đùa ở đó. Ở chỗ đầu đường Rollandes, chỗ đỗ ô tô đi Nam Định, Hà Đông, có một cái ngõ đi thông ra phố Hàng Lọng. Trong ba năm trời, từ lên bẩy đến lên mười, trứ giả ở cùng gia thân ở một gian nhà con trong cái ngõ ấy. Cái ngõ ấy cùng một cái ngõ nữa như là hai cái trôn phễu thông hồ kia cùng hai khoang đất hoang kia ra phố Hàng Lọng. Ban ngày - nhất là về sáng và chiều - trẻ con ở trong hai ngõ chật hẹp đổ dồn cả ra quãng đất hoang kia chơi. Ở khoảng đất phía tây cái hồ, chỗ hai ngõ nối nhau, có khu đất gọi là "trường đấu gà". Cứ mỗi sáng chiều, phường gà chọi đem gà đến đó, đọ nhau, kháo nhau, và đấu thử.

Một hôm, trứ giả nghe thấy một người khen một con gà:
- Con Hoa mơ này thì gà đấu Vĩnh Võ xưa kia cũng không ăn đứt.
Hồi ấy, trứ giả lấy óc măng sữa đoán và hiểu thì tiếng "Vĩnh Võ" nghĩa là khỏe mạnh, sắc cựa; không ngờ rằng hai chữ ấy có nguồn gốc ở lịch sử.
Vào khoảng trăm rưởi năm trước đây, cái hồ ấy là hồ riêng trong phủ đệ Hân Quận công Nguyễn Phương Đĩnh, quan A bảo của con đầu lòng chúa Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm, tên là Trịnh Khải; khoảng đất hẹn hò của phường gà đấu ấy chính là đấu trường của hết thảy những gà chọi khắp nơi kinh kỳ.
*
*   *
Trăm sáu mươi năm trước đây[3], một hôm trời xuân ấm áp cuối tháng giêng, ở bãi cỏ cạnh hồ Quang Minh, trước nhà Đãi Nguyệt Tạ, phường gà chọi họp đủ mặt. Từ Thiên Trường, ông Chiêu Trung Hòa cũng mang con gà "Chiến tam anh" của ông lên để khoe cựa, khoe mã cùng con gà "Nhất dạ tứ thẳng" của lão cai Đình Bảng bên Kinh Bắc. Bọn gia thần riêng của Vương tử Khải, anh nào anh ấy cũng mang gà của mình ra. Những con gà ấy, phường gà gọi là "gà nhà chúa". Thế Thọ ôm con gà "Độc cước" đương vênh váo khoe:
- Con "Độc cước" của tôi chỉ có một cựa thế mà đã từng bẻ gãy hai cựa hàng trăm con rồi.
Phiên Thọ, vừa vuốt con gà "Ô Mã Nhi" vừa nói:
- Các bác có hiểu tại sao tôi gọi con này là Ô Mã Nhi không? Nó đen tuyền, thế là Ô kê; nó lại khỏe như Ô Mã Nhi.
Một người chủ gà nói:
- Cũng chẳng thấm vào đâu với con "Độc Long" của Vĩnh Võ, bõ của vương tử… À! Mà hôm nay sao bõ ấy chưa mang gà ra hội chiến?
Phiên Thọ nói:
- Ông ta còn phải đi hầu vương tử vào thăm chúa thượng.
Một người nói:
- Hôm nay mới hai mươi mốt, đã đến ngày chầu đâu. Hôm nay là ngày chúng mình đem gà đến chầu vương tử chứ có phải ngày vương tử vào chầu chúa thượng đâu. Mỗi tháng vương tử chỉ được vào trông mặt chúa thượng có hai lần, vào ngày mồng một với ngày rằm thôi mà.
Phiên Thọ nói:
- Chúa thượng mấy hôm nay hình như mệt nặng. Sáng hôm nay vương tử mới biết tin nên vội vào vấn an.
- Thế bao giờ người về? Bây giờ đã quá giữa giờ Tị, gần đến giờ Ngọ rồi. Mọi phiên họp gà, đầu Tị đã bắt đầu rồi.
- Người đi cùng quan A bảo, nói là độ cuối Thìn thì về.
Vĩnh Võ, giữa lúc ấy từ ngoài chạy vào. Mọi người đổ xô ra hỏi:
- Vương tử về chưa?
Vĩnh Võ nói:
- Vương tử sắp về. Ngài có lệnh truyền cho tôi về trước rằng cuộc đấu gà hôm nay bãi. Thôi! Các ông đi về, để đến phiên sau.
Mọi người thất vọng ôm gà ra về.
Đi đường họ kháo chuyện cùng nhau:
- Chúa thượng mê man vô lý quá. Vương tử năm nay 18 tuổi rồi mà không dựng làm thế tử, còn đợi đến bao giờ?
- Ứ ừ! Ngôi thế tử, chúa thượng phải để dành cho con Bà Chúa Chè chứ!
- Bằng đầu bằng cổ còn chẳng chắc nữa là đứa bé mới lên bốn! Vô lý nhất là chúa thượng mê man Bà Chúa Chè đến nỗi con đẻ rứt ruột ra mà đuổi ra ngoài phủ, bắt ở với quan A bảo, mỗi tháng chỉ cho trông mặt có hai lần. Làm con chúa mà vào phủ phải sợ sệt lẻn lút như người dưng nước lã.
- Mấy hôm nay nghe như nhà Chúa làm sao đấy. Vương tử bỏ phiên chọi gà, muốn chừng lại có việc gì lôi thôi. Mấy hôm nay Vĩnh Võ ra chừng nhiều công việc lắm.
- Tên mới tuổi rõ hay! Vĩnh Võ!
- Thế ông không rõ à? Ông ta là bõ[4] của vương tử. Vương tử khi bé hay bĩnh[5] bậy. Nên trong phủ, nguyên phi đặt tên cho là Bĩnh. Bõ Bĩnh nói lái là Vĩnh Võ. Vương tử yêu hắn lắm đó. Vì thế nên mới cho chăn nuôi con gà "Độc Long".
 
*
*   *
- Tức quá! Thế nào ta cũng giết thằng quận Huy cùng con đĩ làng Phù Đổng mới hả giận.
Vương tử Khải vừa vùng vằng vừa nói. Kẻ hầu đầy tớ, thẩy đều im thin thít, không ai dám dàn mặt. Vương tử đi đi lại lại trong nhà đến mấy chục lượt, gặp cái gì vướng tay, vướng chân, vướng mắt thì xô đẩy đập phá.
Bữa cơm chiều gần tới rồi mà Dự Võ, tên thiện phu[6] sợ quá, không dám lên bẩm nữa. Lũ người nhà đầy tớ bàn cùng nhau:
- Chắc ngài có việc gì bực tức sáng nay. Làm thế nào cho ngài nguôi giận để đi xơi cơm bây giờ?
- Đi tìm thầy Đàm Xuân Thụ. Chỉ có thầy đồ ấy là dẹp nổi cơn thịnh nộ của đức ông thôi.
Một lúc sau, Đàm Xuân Thụ đến. Khi đó, Khải vùng vằng quát tháo đã mệt, ngồi lặng im, ngả lưng vào chiếc trường kỷ, mặt trước đỏ như gấc, bây giờ tím lại. Xuân Thụ lên thềm vái chào rồi hỏi:
- Vương tử hôm nay có điều gì thất ý.
Khải chỉ cái đôn sứ bên cạnh bảo Xuân Thụ ngồi:
- Sáng nay nghe tin vương phụ mệt, ta vội cùng quan A bảo vào vấn an. Tới cửa Nội cung, bọn quân Trung duệ ngăn lại không cho vào. Ta mắng chúng nó thì chúng nó nói:
- Có thượng lệnh truyền không cho ai được vào nội cung cả.
- Tao cũng không vào được?
- Vương tử tha tội cho. Quan cứ lệnh, lính cứ truyền, chúng con không dám trái thượng lệnh.
- Mày gọi thằng nào sai mày ra đây tao bảo.
Chúng vào gọi một tên biện lại đội quân Trung duệ ra. Tên này trông mặt cũng có vẻ ngang nhiên tự đắc lắm. Nó lên tiếng trước:
- Vương tử ban quở gì tiểu tốt vậy?
- Lệnh nào lại có lệnh cấm cả tao không được vào trong nội cung?
- Dạ, lệnh của vương thượng. Vương thượng truyền rằng không cho ai vào cả, nếu sai thì đã có quân pháp.
- Lệnh không trừ một ai?
- Dạ có, trừ Quốc sư cùng quan quận Huy. Còn ngoại giả, cấm hết.
- Cấm cả tao?
- Tiểu tốt nào dám cấm vương tử, ngặt vì quân pháp nghiêm.
Sợ ta nóng quá thất thố gì chăng, quan A bảo phải đỡ lời:
- Nếu thượng lệnh đã vậy thì chú chuyển lời vào cùng chúa thượngrằng có vương tử cùng A bảo Hân Quận công xin vào vấn an. Chúng ta chờ ở đây.
Tên biện lại vào một lúc rồi ra nói rằng:
- Chúa thượng hiện đương mệt, xin hai ngài về.
Trông nét mặt thằng ấy, ta biết thừa là nó nói láo chứ nó chẳng chuyển lời gì cả. Tức quá, ta xông đến toan đánh thì nó công nhiên ra ý cự lại ta. Quan A bảo vội gạt ta ra:
- Thôi, vương tử cứ về. Để tôi ở lại liệu cách vào bạch cùng vương thượng.
Ta quay về còn nghe thấy tiếng nói đổng trên chòi cổng:
- Ông to thật, nhưng còn có người to hơn ông!
Nén giận ta phải về. Giận làm gì những đứa tiểu tốt ấy. Chúng nó sở dĩ hỗn là vì thằng quận Huy.
Đàm Xuân Thụ nghe hết câu chuyện, thung dung bảo Khải:
- Quan A bảo xử thế là phải. Vương tử nén giận là phải. Hiện giờ vương tử đương bị vương thượng ghét bỏ, làm quá thì chỉ súc nộ thêm vương thượng, trước là trái đạo làm con, sau là làm cho quân tiểu nhân thêm đường dèm pha có hại. Vương tử nên ẩn nhẫn đi là hơn.
Khải cúi đầu nghĩ một lúc rồi đáp:
- Ngươi nói chí phải… Nhưng ta sợ một điều… Ta sợ lắm… Đêm qua ta nằm mơ thấy một giấc mộng hơi dữ.
- Thưa, mộng ra sao?
Khải lại cúi đầu xuống ngập ngừng không muốn nói. Lúc ngửng lên, Xuân Thụ trông thấy khóe mắt Khải hơi ướt, hai giọt lệ vừa ở mắt trào ra.
Giữa lúc ấy, tên thiện phu bưng mâm lên, Khải ngoảnh mặt đi để che nét mặt buồn:
- Mày lấy thêm bát đũa. Thầy nho ở đây uống với ta chén rượu.
Lừa lúc tên thiện phu xuống thềm, Đàm Xuân Thụ khẽ nói với Khải:
- Lát nữa, xin vương tử đuổi hết tả hữu. Tôi nghe như có chuyện quan trọng.
Khi ngồi vào mâm. Xuân Thụ bảo thiện phu:
- Cậu cất rượu đi. Hôm nay vương tử có điều bực mình, không nên uống rượu.
Khi tên thiện phu đi khỏi, Xuân Thụ nói khẽ với Khải:
- Xin bỏ rượu để tâm thần được bình tĩnh.
Suốt bữa, hai người không nói gì.
Sau khi triệt mâm và đuổi tả hữu lui cả, Xuân Thụ mới hỏi Khải:
- Vương tử mộng làm sao?
- Ta mộng thấy: mình mặc áo quì sắc, đầu chít khăn chữ đinh, đứng giữa phủ đường khăn áo đại tang, ta e rằng vương phụ…
- Tôi cũng nghe dân gian ngoài đồn đại rằng có lẽ chúa thượng qua rồi. Huy quận cùng Đặng thị cấm không cho ai ra vào để làm chuyện thoán đoạt. Song cứ ý tôi…
- Thì sao?
- Thì chúa thượng cũng chưa mệnh hệ nào. Có điều rằng mình cũng nên sắp đặt sẵn sàng đi. Rồi một mai có biến thì lũ loạn thần không thể làm gì được. Nếu đợi đến lúc đại sự xảy ra thì giở tay không kịp. Mà ở tình thế này, thấp cơ một chút thì tính mệnh cũng không toàn chứ đừng nói đến địa vị. Cứ riêng ý tiểu thần thì một mặt nên tìm cách thông với quân Tam phủ. Ngày kia có việc thì đóng cửa phủ lại giết Huy quận, giam Đặng Thị lại. Một mặt cho người báo với hai trấn Kinh Bắc, Sơn Tây đem quân hai trấn vào thì ngôi cao mới về vương tử được. Vương tử nghĩ thế nào?
Khải nói:
- Đại khái thì như thế, nhưng chi tiết ra làm sao?
- Mỗi việc xin vương tử giao cho một người. Việc kết nạp với dũng sĩ Tam phủ, xin giao cho nội thị Chu Xuân Hán. Việc thông trong nội cung, xin giao cho Thái giám Khê Trung hầu. Việc âm kết với trấn Kinh Bắc xin giao cho điển thư[7] Hà Như Sơn. Việc âm kết với trấn Sơn Tây, xin giao cho tiểu thần.
 
*
*   *
 
Quan Đốc đồng trấn Kinh Bắc Ngô Thì Nhậm mấy hôm nay không sang dinh quan Trấn thủ làm việc vì ông thân sinh ra ông, quan Đốc thị Lạng Sơn Ngô Thì Sĩ về thăm quê nhà, nghỉ lại Kinh Bắc chơi với con.
Một buổi chiều, sau tiệc nước, ông nói với cha:
- Con được gặp thầy vừa gặp dịp. Con có một việc không biết nghĩ thế nào. Con toan bẩm thầy đã mấy hôm mà cứ lưỡng lự mãi.
- Việc công hay việc tư?
- Việc công. Việc quân quốc trọng sự. Vương tử Tông[8] mưu đồ việc bất quỹ[9] cùng bọn tiểu nhân trong cung, lại âm kết đảng với hai trấn Tây Bắc. Không lẽ để vương tử làm bậy, mà nói ra…
- Cứ thầy xem thì việc ấy cũng là vương tử thế bất đắc dĩ. Chúa thượng mê hoặc muốn bỏ trưởng dụng thứ. Vương tử sợ sau này quận Huy cậy có binh quyền trong tay mà làm càn thì vương tử dự bị sẵn từ bây giờ cũng là phải.
- Thầy chưa biết rõ. Vương tử đã sắp đặt đâu đấy cả rồi, chỉ chờ ngày khởi sự nữa thôi. Hiện nay chúa thượng hãy còn sờ sờ ra đó mà vương tử định làm loạn thì còn ra thế nào.
- Sao con biết rõ?
- Tên học trò con là Hà Như Sơn hiện làm điển thư cho vương tử. Hắn phụng mệnh vương tử sang đây nói với quan Tổng trấn và hiện đã cho người lên Lạng Sơn mua ngựa, sắm khí giới. Ý vương tử định: Thông nhau với quân Tam phủ đóng cửa cung lại giết quan Trưởng phủ[10] và Đặng Thị rồi gọi binh hai trấn về ủng hộ để cướp lấy ngôi. Như thế là làm loạn chứ không phải là phòng thân nữa.
- Thế ý con định sao?
- Ý con định rằng: vương tử định làm loạn thì con phải ngăn việc vương tử lại.
- Con ngăn ra sao?
- Con về kinh lấy lẽ phải trái nói với vương tử. Đó cũng là phận sự của con vì con là tư giảng của vương tử. Nếu vương tử nghe kẻ tiểu nhân mà không nghe con thì con phải khải cùng chúa thượng rõ.
Ngô Thì Sĩ vội gạt:
- Điều ấy không được. Con mà tố cáo chuyện này thì có liên lụy đến vương tử và quan tổng trấn đây. Quan tổng trấn đây là bạn với ta, cũng như ta. Điều ấy không được.
- Con chịu ơn tri ngộ của chúa thượng, không thể để yên việc này được.
Biết rằng có can con nữa cũng vô ích, ông nói:
- Để mai ta về kinh dò xem hư thực thế nào rồi khi ta lên trấn rẽ vào báo tin cho con biết.
- Mai con cũng về kinh cùng thầy.
Đêm hôm ấy, hai cha con cùng trằn trọc, mỗi người băn khoăn về một ý nghĩ riêng.
Dưới ngọn đèn dầu lạc, ông giở tập thơ văn cổ ra xem. Cầm sách xem thơ, chẳng qua là theo thói quen mà thôi, chứ thật ra ông còn bận lòng vì lời nói của con ông ban chiều. Ông vốn biết con ông là người quyết đoán và xử sự rất rành mạch, có khi nhẫn tâm nữa. Con ông đã nói như thế thì tất việc biết rõ lắm rồi, mà cũng có thật như thế chứ chẳng sai. Nếu hắn tố cáo thì bao nhiêu người chết. Ông áng chừng cũng biết qua loa ai là đảng với Khải, nên ngồi nghĩ nhẩm lại ông thấy toàn bạn thân của ông cả. Chết nỗi! Như thế thì ra con ông nhẫn tâm giết toàn người phụ chấp của hắn cả. Giời ơi! Nếu quả việc xẩy ra thì ta không còn mặt mũi nào sống ở dương gian nữa. Để cho con giết bạn mà không cứu được, còn nhục nào hơn nữa. Ông hồi tưởng lại ba mươi tư năm trước, năm ông mới hai mươi nhăm mà Thì Nhậm, con đầu lòng ông, mới lên năm. Tết Nguyên Đán năm ấy, sáng ông đem giấy bút ra khai bút và gọi con ông ra:
- Nào, thằng này năm nay lên năm rồi. Thầy đặt tên cho mà khai bút.
Cậu con hóm hỉnh hỏi:
- Thế tên thầy là gì?
- Để thầy khai bút trước, thầy viết cho coi.
Rồi cầm bút viết hai dòng khai bút:
Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi thập nhất, tuế thứ Canh Ngọ chính nguyệt, Nguyên Đán, cát thì thí bút
Tả Thanh Uy, Ngọ Phong Ngô Thì Sĩ.
Ông chỉ vào chữ "Sĩ" mà bảo con:
- Đây, tên thầy đây.
Cậu bé cầm bút phẩy thêm một nét trên chữ "Sĩ", thành chữ "Nhậm" rồi nói:
- Hơn thầy một nét!
Nhân tiện ông đặt tên là Thì Nhậm.[11]
Ông vẫn mừng rằng có con thông minh và với ai cũng khoe rằng con ông tự đặt tên lấy.
Sáng ông dậy từ canh tư. Trong khi đợi sáng, buồn, ông ra văn phòng con xem có sách gì hay không. Ông thoáng thấy dưới chiếc lư trầm có hở ra một góc chiếc thư. Tò mò ông lôi ra thì là thư ai gửi cho con ông. Thấy dáng chữ lạ, ông rút thư ra xem:
"Kinh Bắc Đốc đồng Hi Doãn nhân ông văn ký:
Công việc mười phần tôi chỉ rõ qua loa một hai. Mong rằng nhân huynh sớm về kinh, ta sẽ bàn định rõ."
"Đệ: Nguyễn Huy Bá bái".
Đọc xong thư ông toát mồ hôi:
"Thôi chết! Giao thiệp với thằng tiểu nhân này thì chết! Thằng này nó chỉ lấy nghề dò la tố giác làm cách xuất thân. Năm xưa nó tố giác Thụy Quận công rồi đương là anh cống sinh nhẩy lên Tiến triều. Sau được bổ lên Đốc đồng Ninh Sóc rồi vì tham tang phải triệt về. Nay nó đương cần xuất chính, thế nào nó cũng cần làm hại người. Con ta đi với thằng này thì thật điếm nhục tổ tông".
Sáng hôm sau ông bảo Ngô Thì Nhậm:
-Thầy nói thật: nếu con phát giác chuyện này thì thầy uống thuốc độc chết chứ không sống làm gì nữa! Vương tử là quân phụ con, quan Trấn thủ đây là phụ chấp con. Nếu con giết thầy được thì cứ việc làm.
- Nào con đã làm gì. Nếu con thao thủ như thế thì can chi phải trình với thầy. Thầy nên im đi như không. Nếu thầy làm to chuyện ra thì có khi vì thế mà vỡ chuyện. Việc này đã chắc gì là có. Mà dù có nữa thì con cũng mặc.
- Hôm qua con nói hôm nay cũng về kinh. Con về để vào đảng Đặng Thị chăng?
- Không, con về để can vương tử. Nếu thày ngờ thì con không về nữa. Nhưng điều cần hơn hết là thầy cứ tự nhiên.
Hôm ấy Ngô Thì Sĩ sang Kinh để về Tả Thanh Oai. Ông đi được nửa ngày thì Ngô Thì Nhậm cũng thắng ngựa về kinh. Tang tảng sáng hôm sau Thì Nhậm lại sang Kinh Bắc vào hầu quan Trấn thủ Nguyễn Khắc Tuân thật sớm:
- Tiểu sinh phải tiễn gia nghiêm về kinh nên hôm nay mới sang hầu được.
Khắc Tuân hỏi khẽ:
- Thế nào? Việc trong kinh ra làm sao?
- Thưa vẫn yên lặng như thường.
 
*
*  *
Hôm trước ở Súy phủ[12] trong Thủy Tinh Cung, quân nội thị đương sắp sửa lễ vật để làm tết Trùng Cửu. Tĩnh Vương[13] đương nằm nghe khải do Tuyên phi[14] đọc. Đọc hết bản khải, Tuyên phi khóc. Tĩnh Vương hỏi:
- Khanh có điều gì buồn?
- Thiếp không có điều gì buồn cả. Chỉ buồn cho chúa thượng có người con không ra gì. Nói ra thì thiếp mang tiếng là xui bẩy mà không nói ra…
Nói tới đó, Tuyên phi lại khóc. Một lúc mới nói tiếp:
- Địa vị sau này của thế tử cả. Nhưng cha còn sống, thế tử nỡ lòng nào làm cái việc Sở Mục Vương, Tùy Dương Quảng.[15]
Tĩnh Vương ngồi nhỏm dậy hỏi:
- Làm sao? Thằng con bất hiếu ấy định giết bố à?
- Thiếp không dám nói. Xin cho hai người hiện đứng dưới trướng lên hầu.
Tuyên phi sẽ liếc mắt cho nội thị. Nguyễn Huy Bá và Ngô Thì Nhậm tiến lên rập đầu làm lễ. Tĩnh Vương hỏi Ngô Thì Nhậm trước:
- Việc đầu đuôi thế nào?
- Vương tử ở ngoài không được vào hầu, nghe chúng đồn nhảm, cho là chúa thượng thùy nguy. Vương tử sợ mất ngôi cao, định tư thông với quân lính trong phủ, chờ đến ngày chúa thượng khuất núi, cho quân đóng cửa phủ lại, giết quan Trưởng phủ, bắt giam Tuyên phi rồi cướp ngôi cao. Lại mật thông Tây Bắc hai trấn đem quân về ủng hộ.
Tĩnh Vương quăng chén nước đương cầm ở tay xuống đất:
- Ta chưa chết mà nó đã mong ta chết. Quân bất hiếu. Sao ngươi rõ?
- Bẩm tên Hà Như Sơn là học trò tiểu thần hiện làm điển thư cho vương tử nói.
Tĩnh Vương lại hỏi Huy Bá:
- Còn ngươi? Ngươi biết những gì?
- Vương tử đưa cho nội thị Chu Xuân Hán nghìn lạng bạc để dụ quân sĩ trong phủ và mua chuộc quân Tam phủ. Thần biết rằng trong nước phân bè đảng đã lâu nên đã liệu trước mà cho người nhà sang Kinh Bắc, Sơn Tây dò trước. Nàng dâu trưởng thần, hiện hầu Lệnh bà, một hôm nghe thấy Chu Xuân Hán cùng Khê Trung hầu nói lóng với nhau.
- Ngươi có nhớ không?
- Thưa có. Một hôm Chu Xuân Hán gặp Khê Trung hầu ở cạnh Tiểu Bút Điếm, Hán nói: "Hồ Cửu mông nhung, nhất quốc tam công, Ngô thùy thích tòng"[16].
Tĩnh Vương nói:
- Chúng nó muốn làm loạn chứ có theo ai!
Huy Bá nói tiếp:
- Lại có một hôm, tiểu thần thấy một đám đông ngồi tụ nhau ở cửa ô Trường Bắn, họ túm lại nghe một đứa ngồi giữa hát:
Đục cùn thì giữ lấy tông,
Đục long cán gãy còn mong nỗi gì.
Rồi một đứa đứng dậy hỏi mọi người rồi lại tự đáp: Các bác có hiểu nghĩa thế nào không? Thế nghĩa là: Hiện giờ chúa thượng già rồi (Đục cùn rồi), thì ta nên giữ ngôi cho vương tử Tông. Nữa một mai chúa thượng khuất núi, ông chúa con Cán quặt quà quặt quẹo thì quốc gia còn trông mong nỗi gì nữa! Rồi cả bọn đứng lên cười ha hả. Thằng kia lại nói: Xong đâu đấy cả rồi, trong tháng chín thì họ giết thằng Tốt áo[17] cùng cô gái hái Chè[18]
Tĩnh Vương nói:
- Thôi, thế là đủ. Cho hai ngươi lui.
Hai ngươi lui xong, Tĩnh Vương tức khắc cho gọi Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, Đình Bảo đương ở nhà thấy lệnh chỉ đòi vào phủ lúc gần tối, biết là có câu chuyện quan trọng liền lên ngựa vào phủ ngay.
Tĩnh Vương đem đầu đuôi câu chuyện nói cho Đình Bảo nghe.
Huy Quận công Hoàng Đình Bảo nghe Tĩnh Vương nói dứt lời rồi tâu:
- Thần biết rõ việc này đã mấy hôm nay. Sở dĩ chưa nói là không muốn làm phiền lòng chúa thượng. Thần định êm đềm ngăn chặn chuyện ấy đi. Đợi ngày chúa thượng thật bình phục, nhiên hậu sẽ khải.
- Ta muốn ngay sáng mai cho bắt cả lũ loạn thần tặc tử ấy chém hết.
- Không nên. Cứ thần nghĩ thì vương tử dám mưu đồ chuyện ấy là do hai trấn Kinh Bắc, Sơn Tây chủ trương. Nay hai người ủng binh ở ngoài cả. Phỏng chúa thượng làm vỡ chuyện ra thì thần e có biến to. Cứ thần thiết nghĩ thì trước hết hãy triệu hai người ấy về triều giữ lỏng lại, cho tiệt hậu họa, nhiên hậu mới tra án phân minh mà trị tội.
*
*   *
Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân được lệnh chỉ triệu về kinh, cùng về với Đốc đồng Ngô Thì Nhậm. Đến kinh, thoạt tiên ông vào thăm cha nuôi, Hân Quận công Nguyễn Phương Đĩnh, và nhân tiện yết kiến vương tử Khải. Đến cửa phủ đệ Hân Quận công, thấy có lính phủ Trung Duệ gác, ông giật mình biết là việc lộ. Trên chòi cổng phủ đệ, một tên biện lại quân Trung duệ bảo ông bằng cái giọng nửa cung kính nửa chế nhạo:
- Quan lớn muốn đến yết kiến vương tử à? Người vừa nhập các hôm nọ xong. Quan lớn muốn thăm quan cố à? Người vừa nhập phủ hôm qua. Quan lớn nhập phủ thì thấy cả đôi.
"Xuất các" là chữ dùng để chỉ ông thế tử mới được dựng. "Nhập phủ" là chữ chỉ ông quan mới được vào làm chính phủ đại thần. Nghe mấy tiếng lộng ngữ "nhập các", "nhập phủ", ông đã hiểu rõ tình thế rồi. Ông quay lại bảo Ngô Thì Nhậm:
- Dù sao thì ta cũng xin nhập thị để diện khải cùng chúa thượng đã. Ông chắc đã diện khải trước tôi.
Thì Nhậm cúi đầu không nói gì.
Hai người cùng đi vào Súy phủ. Đến Tả Xuyên Đường, đã thấy quan Trấn thủ Sơn Tây, Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Ly[19] đương đợi tội tình ở đó. Nguyễn Ly nói:
- Ông đã rõ chưa? Vương tử, Chu Xuân Hán, Đàm Xuân Thụ và đồ đảng người thì bị bắt giam trong ngục, người thì bị giam lỏng cả rồi. Tôi đành ở đây chờ chết thôi.
- Để tôi vào diện khải đã rồi có chết cũng cam tâm.
Khắc Tuân vào đến Quyển Bồng Điếm, xin vào nhập thị. Vì ông là em Thái phi, cậu ruột Tĩnh Vương nên quân lính phải vào bẩm mệnh. Ông chờ ở Quyển Bồng Điếm một lúc thì thấy nội thị Quyến Trung Hầu ra:
- Thế nào? Chúa thượng có cho tôi vào không?
- Chúa thượng sai tôi ra nói với ông rằng. Chúa thượng bắt tôi cứ nói đúng như lời ngài nói, tôi xin cứ thuật ra: "Cậu cùng thằng giặc Tông mưu việc bạn nghịch, còn mặt mũi nào trông thấy tôi nữa!".
Tuân Sinh hầu cúi đầu đi ra. Ra đến Tiểu Bút điếm thì gặp Nguyễn Ly và Ngô Thì Nhậm. Nguyễn Ly cùng Tuấn Sinh hầu nhờ Ngô Thì Nhậm làm khải hộ để kêu oan, Thì Nhậm chối từ. Tuấn Sinh hầu nói:
- Ông đã tố giác thế tử thì ít ra ông cũng phải làm khải nói rõ ràng sự thật, không được vu khống gì cả.
- Tiểu sinh có vu khống điều gì! Tiểu sinh chỉ làm trọn đạo thần tử thôi.
Hai người buồn rầu trở ra.
*
* *
Cuộc thẩm vấn tra cứu bắt đầu tiến hành dưới quyền quan Thái giám Ngạn Triều hầu Phạm Huy Thức và quan Nghè Ngô Thì Nhậm. Bị bắt giam tất cả hơn trăm người rồi. Trong số đó có:
Vương trưởng tử Trịnh Tông,
Kinh Bắc Trấn thủ Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân,
Sơn Tây Trấn thủ, Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Ly,
Nội thị: Chu Xuân Hán, Khê Trung hầu,
Nho sinh: Đàm Xuân Thụ, Nguyễn Quốc Trấn. Cùng bọn gia thần nhà vương tử là lũ: Hàn Như Sơn, Thế Thọ, Phiên Thọ, Vĩnh Võ.
Tuy rằng theo lệnh chỉ thì Phạm Huy Thức đứng đầu, song công việc nhất nhất ở Ngô Thì Nhậm cả.
Bị tra tấn nhiều nhất là nho sinh Đàm Xuân Thụ. Phần nhiều nhận cả, nhưng chỉ nhận là có vào đảng với vương tử để phù lập vương tử sau này, phòng những việc thoán đoạt của Huy Quận, Tuyên phi và vương tử Cán. Không những họ nhận, họ lại còn lấy làm phải nữa, vì họ cho như thế là giữ vững cơ nghiệp nhà Trịnh và tắt mối loạn xã tắc. Nhưng nhận như thế, chưa vừa ý Ngô Thì Nhậm. Dưới đây thuật lại một đoạn bản khẩu cung của nho sinh Nguyễn Quốc Trấn, điển thư của Nguyễn Khắc Tuân, Trấn thủ Kinh Bắc. Phần "vấn" là lời Ngô Thì Nhậm, phần "đáp" là lời Nguyễn Quốc Trấn.
Vấn - Có phải hôm mười sáu tháng tám, quan Trấn thủ sai anh về kinh đến thăm vương tử và nói với vương tử xin vương tử cho biết ngày khởi sự không?
Đáp - Có. Tôi có phụng mệnh quan Trấn thủ về kinh, có đến hầu vương tử nhưng không có chuyện xin vương tử cho biết ngày khởi sự.
Vấn ­- Thế quan Trấn thủ dặn anh nói gì với vương tử?
Đáp - Rằng: quan Trấn thủ xin hết lòng phò tá, ủng hộ, một mai đại sự đến. Xin đại nhân nhận kỹ: một mai đại sự đến nghĩa là một mai vương thượng băng hà thì chủ tôi xin mang quân về ủng hộ để chống với sự làm loạn của bọn Hoàng Đình Bảo. Còn như định ngày khởi sự thì không có.
Vấn - Chúng mày láo! Chúng mày định làm loạn để cướp ngôi, láo gì?
Đáp - Chúng tôi cho rằng: nước có vua lớn là phúc cho nước, mà bỏ trưởng lập thứ là mầm diệt vong. Vì muốn cho xã tắc không loạn, muốn giữ cơ nghiệp vương gia trường cửu, chúng tôi mới phải củ hợp cùng nhau. Như thế là mưu việc an nguy của xã tắc, sao gọi là làm loạn được? Đại nhân định vu cho chúng tôi làm cái việc của Sở Thương Thần[20] để làm ô nhục chúng tôi với hậu thế, nhưng công luận còn đó, trong sử xanh sau này chưa biết ai là loạn thần tặc tử! Tôi chịu bẩy hình tấn rồi. Thân này đem băm nát ra được, nhưng lòng này không ai đoạt được đâu!
……..
Ngày rằm tháng chín năm Canh tử, niên hiệu Lê Cảnh Hưng thứ 41, ở Tiểu Bút điếm, các quan đứng chực giờ vào hầu Tĩnh Vương, quan Tham tụng Vũ Miên hỏi riêng quan Bồi tụng Bùi Huy Bích:
- Làm sao Ngô Thì Nhậm đương phụng lệnh tra cứu việc này lại hốt nhiên thôi!
- Quan lớn không rõ à? Cha hắn phẫn uất vì hắn tố giác, uống thuốc độc chết. Hắn phải bỏ chức về quê đinh gian[21]. Quan lớn làm tướng[22] mà không biết?
- Bấy lâu tôi yếu nên có vào coi việc trong phủ được mấy đâu. Vả chăng công việc của những đứa tiểu nhân, tôi có biết làm gì!
- Lê Quí Đôn thay hắn phải không?
- Phải.
- Phải lắm, thay việc Nghè Nhậm dễ cũng chỉ Bảng Đôn đủ tâm địa…
- Việc này còn có cái trò hay nữa.
- Trò gì?
- Nghè Nhậm hãm bố, bạn bố vào chỗ chết để cầu quan; Nghè Tế[23] cho bắt, tra cứu, hành hạ và hãm tội rể để hiến nịnh.
Tới đó, một tên nội thị ở trong phủ ra nói:
- Vương thượng truyền các quan vào nhập thị trong Thủy Tinh cung.
Lần lượt mọi người vào Thủy Tinh cung.
Tới nơi mọi người đã thấy quan Trưởng phủ sự Huy Quận công Hoàng Đình Bảo đứng trước ngự sàng. Tĩnh Vương nói:
- Quả nhân bất hạnh gặp thằng con bất hiếu, lũ bầy tôi bất trung cùng nhau mưu việc phản nghịch. Chúng thật bụng dạ như chó lợn. May nhờ hồng phúc Tiên vương, mưu chúng bại lộ. Quả nhân đã giao cho Thái giám Ngạn Triều hầu Phạm Huy Thức cùng Tình Phái hầu Lê Quý Đôn tra xét. Nay án đã thành, những đứa thủ mưu đã chịu tội, nhưng dư đảng chắc còn nhiều, chư khanh nên để tâm dò dần mà trị cho tiệt căn.
………………..
Kết quả án năm ấy:
Vương tử Tông bị giam trong Tam Nhàn đường. Nguyễn Khắc Tuân, Chu Xuân Hán uống thuốc độc chết trong ngục. Ngoài ra bị chém hơn hai chục người còn đầy lên viễn châu hơn trăm người.
Ngô Thì Nhậm thăng Binh bộ Tả thị lang.
Dương Trọng Tế thăng Thiêm đô Ngự sử.
Nguyễn Huy Bá đặc cách bổ Lại bộ Đô cấp Sự trung, nhập nội Thiêm sai.
Lúc hành hình, Nguyễn Quốc Trấn chửi mắng Ngô Thì Nhậm và Lê Quí Đôn thậm tệ. Đao phủ thủ đã múa gươm rồi, Quốc Trấn còn đọc hai câu thơ:
Thiên vô nhật, triều vô quan
Nhẫn xử Quốc Trấn hàm oan
Nửa tháng sau, trong kinh thành truyền tụng đôi câu đối mới:
Sát tứ phụ nhi Thị lang! Trung yên vấn hiếu?
Cứu nhất tế nhi Ngự sử, công nhĩ, vương tư.
(Giết bốn bố làm Thị lang, trung rồi, còn hiếu?
Hại một rể làm Ngự sử, công nhỉ, quên tư).
Các ông đồ thóc mách hỏi nhau:
- Thế nào là giết bốn bố?
- Vương tử Khải là quân phụ thế là một bố; Ngô Thì Sĩ đẻ dứt ruột là hai bố; Chu Xuân Hán, Nguyễn Khắc Tuân, tuổi bằng tuổi bố lại bạn với bố hắn, thế là bốn bố!
- Giá thằng Ngô Thì Nhậm và thằng Dương Trọng Tế ở chung nhà thì câu đối này dán ở cổng hay biết mấy!
 
II
Loạn quân tam phủ
Vương tử Khải bị giam ở Tam Nhàn đường, bên cạnh Trạch Các đã hai đêm rồi, tin tức trong ngoài bị cắt đứt. Hôm đầu, ông bị bắt lúc gần chập tối, vào tới nơi giam thì trời tối hẳn. Là người khác thì đêm hôm ấy trằn trọc không ngủ được, nhưng ông là người thông đạt phóng khoáng lắm, bất cứ việc to hay việc nhỏ, khi đã xẩy qua rồi là ông coi như không, không thèm để ý đến nữa. Từ ngày phải đuổi ra ở nhà Hân Quận công, ông tự coi đời ông là đời bỏ đi. Bởi thế ông chỉ quên mình vào những trò chơi nhảm nhí: xem gà chọi, đi săn bắn.
- Phen này thì chết! Quân phụ bảo ta chết thì ta chết! Chết mà lại rảnh. Đất họ Trịnh nhà ta, theo phong thủy[24] là thế đất: phi vương phi bá, quyền khuynh thiên hạ; nhị bách dư niên, tiêu tường nãi họa[25]. Kể từ Thái vương đến bây giờ đã được hơn hai trăm năm rồi. Cái vạ diệt vong chỉ đời sau là thấy. Được dựng làm chúa nữa thì bất quá cũng là giơ mình ra chịu làm con hi sinh mà thôi, quí báu gì. Âu là chết!
Rồi ông bật cười lên giường nằm, xuất khẩu ngâm câu thơ ông vừa buột miệng đọc:
Ngủ quách chuyện đời, thây kẻ thức.
Rồi mai tỉnh táo thử xem sao
Thế là, trong trí ông thản nhiên ngay với việc vừa qua, kéo một giấc dài đến sáng.
Sáng hôm sau, qua khe cửa sổ ông nhìn thấy từng nhà lầu TrạchCác, chỗ ông phải được ở nếu vua cha ông không có tính thiên mà ghét ông. Nhìn thấy Trạch Các bất giác ông cảm thấy cái sự nhạo báng của số phận: bị giam ở bên cạnh chỗ địa vị chính thức của mình.
Cửa Tam Nhàn đường mở, tiến vào hai người. Ông nhận ra hai ông tiến sĩ Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Đích, vương tử hỏi trước:
- Hai ông vào bắt tôi ra đình cúc[26] chăng?
- Thưa không. Theo lệnh chỉ, chúng tôi được cử làm Tả, Hữu Tư giảng của vương tử.
Ông cười:
- Tôi còn học mới hành gì nữa.
- Chúng tôi chỉ đến yết kiến vương tử một lần này thôi. Vương thượng tuy có lệnh chỉ ấy, song chẳng qua là để che mắt người ngoài thôi. Chúng tôi xin mãi mới được vào đây yết kiến. Song đã có lệnh ấy thì âu là tiện thị chúng tôi cũng là gia thần của vương tử rồi, có nghĩa sống chết cùng nhau. Chúng tôi nói để vương tử rõ. Ở đây toàn quân Trung duệ của Huy Quận coi, nhất thiết ra vào đều cấm. Chúng tôi lấy làm nguy cho vương tử lắm đó. Xin vương tử…
Nói đến đây hai người nghẹn ngào. Bốn dòng nước mắt nối theo câu nói.
Ngoài đã có tiếng thét:
- Hai ông ra đi!
Hai người vội vàng ra. Cửa đóng sập lại.
Bất giác ông cũng ứa hai hàng nước mắt.
Từ đó đến chiều tối, cửa vẫn đóng.
Cả ngày hôm ấy, ông chưa ăn uống gì.
- Họ định hãm mình chết đói đây!
Một lúc, trống thu canh nổi. Hết hồi trống phiên canh thay. Phiên vừa mới thay xong, đã nghe tiếng thét:
- Ngồi im! Bây giờ thì anh là thằng tù, đừng có bắt bực!
Hết canh một, cửa mở thật mạnh, nối theo tiếng quát tháo:
- Có đi ngủ không? Vui lắm đó mà ngâm nga mãi! Làm cái gì thế nào?
Tiếp theo tiếng quát tháo, tên lính cầm tay thước bước vào. Ông nhìn nó thì, lạ thay! Nét mặt mà ông đoán là nanh ác, đểu giả lại có vẻ hiền từ khả ái. Điệu bộ nó lại tương phản với giọng quát tháo của nó nữa. Dưới ngọn đèn dầu lạc mờ, ông nhận thấy nó cúi rạp xuống chào ông và nói khẽ:
- Phải làm ra thế ở giữa chốn hùm beo.
Rồi nó đặt lên bàn một gói to và một cái hũ sành. Mở ra thì là gói xôi và hũ nước chè nóng.
Giam cầm như thế mất hai năm, nghĩa là cho tới ngày Tĩnh Vương mất, ngôi chúa về thế tử Cán.
 
*
* *
- Khải[27] nguyên năm xưa định hại Tiên vương, ta tưởng những đứa đại nghịch bất đạo ấy chẳng nên để làm gì.
- Khải tuy có tội, nhưng Tiên vương còn chẳng nỡ nữa là Lệnh bà. Không có kẻ bị phế thì sao có người lên được[28]. Nay Lệnh bà đã toại nguyện, tiểu thần tưởng nên mở lòng nhân mà tha chết cho y, để lại giọt máu của Tiên vương. Lệnh bà giết y, tôi e rằng quân sĩ và thần dân không phục thì ngôi cao của Tân vương cũng khó lòng vững. Đó là tiểu thần nói thật tình.
- Y còn sống ngày nào thì chúng còn trông vào y mà làm loạn. Ta muốn triệt mối loạn đi chứ chẳng phải tàn nhẫn gì riêng với y.
- Nếu thế thì xin Lệnh bà cứ giam y lại thế là nhất cử lưỡng toàn.
Vì mấy lời can của Tạ Danh Thùy ấy mà hôm sau vương tử Khải tiếp được lệnh mới. Khi tên Biện lại đội Nội Khuông vào Tam Nhàn đường tuyên chỉ, bắt Khải quỳ nghe chỉ, Khải quỳ ngay xuống. Không phải là sau hai năm giam cầm, ông đã non gan mà đổi thái độ nhưng vì hai hôm trước Tạ Danh Thùy đã báo tin ông hay và khuyên ông nên nhũn nhặn và ẩn nhẫn hết sức để lưu lại chút thân, hoặc giả sau này có dịp nào chăng. Dịp ấy, có người đã nói cùng ông: "Tân vương ốm yếu, khó lòng toàn".
Lệnh chỉ rằng:
Đại nguyên súy, Tổng quốc chính, Điện Đô vương lệnh rằng:
Vương quý tử Khải xét tội thật là đáng chết, nhưng nghĩ tình cốt nhục ta không nỡ. Vậy đặc ân cho được giam ở Tả Xuyên đường, ba ngày phải đến Phủ đường bồi bái một lần.
Việc giám chế giao cho bốn đội quân Nội Khuông, Nội Dực, Nội Nhung, Nội Kiệu.
Kính vậy thay, lệnh chỉ!
Cái đặc ân ấy kể ra lại nguy cho Khải. Cứ ở Tam Nhàn đường, tuy bị giam nhưng cũng chặt chẽ, nhưng những lối lẻn lút để mang thức ăn uống, đồ thay mặc đã sẵn sàng cả rồi. Chịu cái đặc ân mới, nhất là cái đặc ân ấy lại bọc trong sự giám chế của bốn đội Nội thì tức là phải chịu một hình phạt mới mà sự nguy hiểm chưa đo trước được.
Giam ở Tam Nhàn đường trong hai năm, với thời gian, sự khắc nghiệt của lính canh đã bớt dần, nên còn chút thú xướng. Nay có lệnh mới thì sự khắc nghiệt lại càng tăng. Có lệnh mới như tiếng chuông đánh tỉnh thức những thói khắc nghiệt đã ngủ trong hai năm ròng.
Dương Thái phi ở ngoài lo lắm. Bà nói với chị là bà tân[29] chúa Minh Vương, mẹ đẻ ra Thụy Quận công Trịnh Lệ.[30]
- Em lo cho Khải lắm. Canh giữ nghiêm ngặt quá, cơm nước không đưa vào được. Ăn uống thất thường lại buồn bực quá đỗi. Em sợ rằng tính mệnh cũng khó toàn. Chị quen thân với quận chúa Huy[31] nhờ chị làm ơn xin hộ cho. Em chỉ mong được mẹ con chu toàn để sớm tối trông thấy nhau.
Bà Dương Minh tân[32] nhận lời vào nói với Huy quận:
- Quan Trưởng phủ có thù riêng gì với quí tử mà nỡ hãm vào chỗ chết như thế? Em tôi có nó là con, quan lớn định giết cả hai mẹ con người ta hay sao? Đầy lắm thì vơi, thịnh quá thì suy. Quan lớn bây giờ đắc chí nhưng tôi thiết tưởng cũng không nên ăn ở cạn tàu ráo máng quá.
Huy Quận khóc mà rằng:
- Đình Bảo thờ Tiên vương được ngài ân sủng nhiều quá, lại đã từng chịu lời ủy thác lúc lâm chung, bởi vậy nên phải hết sức giúp giập tân vương. Song quí tử cũng là giọt máu của Tiên vương. Đình Bảo có nỡ lòng làm hại thì trời chu đất diệt.
- Đã thế xin quan lớn khoan cho một chút trong việc giám chế và xin cho người nhà được ra vào mang cơm nước áo sống.
- Vâng, có thể được. Nhưng người ra vào phải nhất định, và phải hạn số! Đây, tôi đưa Lệnh bà hai cái thẻ xuất lệ để cầm mà ra vào.
 
*
*   *
Hôm ấy là ngày mồng chín tháng chín. Bên cung vua, bên phủ chúa đều ăn tết trùng cửu. Quân lính vì thế được nghỉ ngơi thư thả hơn mọi hôm. Lính bốn đội Nội hôm ấy tụ nhau cả ở trại dưới Phủ đường. Một anh nói:
- Anh em thư thả họp đông thế này, giá có chén rượu giải phiền thì thú quá.
- Hôm nay sao thằng cha Dự Võ chưa đến. Mọi ngày vào giờ này là nó mang cơm rượu vào cho thế tử.
- Hắn đến thì tốt lắm cũng được một vò, ai uống ai đừng. Kìa! Hắn kia kìa! Nhưng sao lại vào chân tay không?
Rồi mọi người túm tít hỏi:
- Thế nào? Sao hôm nay lại không mang cơm vào cho thế tử? Thế vò rượu hàng ngày của chúng tớ đâu?
Dự Võ bảo mọi người yên lặng rồi nói:
- Hôm nay ngày Trùng Cửu. Thế tử dặn tôi mang vào một con lợn và mười vò rượu để đãi các bác, nhưng đến cửa, lính canh không cho vào, tôi nói khó mãi cũng không được. Chúng nó còn chờ ngoài cổng kia cả. Các bác ra nói giúp.
Bọn lính ra nói với tên đội gác cổng:
- Hôm nay tết, thôi thì cho "xuất lệ" cả.
Thế là mười vò rượu Hoàng Mai, một con lợn luộc khiêng vào. Lũ lính bốn đội ngả ra chén, bàn tán ồn ào, đả động đến cả chuyện thời thế. Đợi cho họ uống say, Dự Võ hỏi:
- Các bác bây giờ thờ ai?
Chúng khẩu đồng từ:
- Thờ Chúa thượng, Điện Đô vương!
- Các bác lầm to! Các bác thờ ông quận Huy cùng bà Tuyên phi chứ! Thiên hạ họ đồn rằng "Trăm quan có mắt như mờ, để cho Huy quận vào sờ chính cung". Trăm quan ăn bổng lộc nhiều thì lấp mắt không biết chứ các bác được cái chi mà cũng mờ thế? Tôi hỏi các bác: Vương quí tử có tội gì không?
Chúng ồn ồn chữa lại:
- Vương thế tử!
Dự Võ biết thừa rằng lòng quân sĩ đã ngả về chủ mình nhưng còn cố gợi cho cái lòng ấy phát hiện hẳn lên. Bởi thế y cố dùng chữ "Vương quí tử" để chọc tức quân lính. Quân lính thấy dùng chữ ấy, hốt nhiên, tự nhiên phản lại mà hét:
- Vương thế tử!
Được thể, Dự Võ nói tiếp, giọng mạnh dạn hơn:
- Vương thế tử có tội tình gì? Con mụ họ Đặng là đứa nghiệt phụ làm mê hoặc bụng Tiên vương đoạt vị của thế tử. Thằng quận Huy vốn có chí làm phản từ ngày ở Nghệ An. Thế rồi nó thông nhau với con mụ Huệ. Nay tân vương còn nhỏ dại mà lại ốm yếu. Quận Huy ngày đêm tính chuyện thoán đoạt. Các bác đều là dân Thang mộc ấp[33] nên nghĩ đến hai trăm năm cơ đồ của nhà Trịnh chẳng hơn là phụ theo lũ loạn thần nghiệt phụ để tiếng xấu về sau ư?
- Phải đó! Bác thiện phu nói phải đó.
Dự Võ nói tiếp:
- Hôm nay tết trùng cửu, người ta ăn uống linh đình, cửa nhà vui vẻ, thế tử tội gì mà mẹ con xa cách một mình thui thủi thân tù! Ngày mai các bác đến đền Khán Sơn, chúng tôi sẽ có một điều gan ruột thưa chuyện các bác hay.
 
*
*   *
Hôm sau, từ đầu giờ Mão đến Khán Sơn đã chật những quân Tam phủ, tiếng mô tê răng rứa đã ồn ào vang động đến cả đền. Đến cuối giờ Mão, người đến họp càng đông thêm. Suốt sườn núi Khán, chỗ nào cũng túm năm tụm ba. Từ tam quan đến đền chính ở giữa, đâu đâu cũng chất những người. Họ đến đấy, ai cũng chung một ý nghĩ: bỏ Trịnh Cán dựng Trịnh Khải. Nhưng bụng nghĩ ấy chỉ tản ra một cách vô ích vào những câu bàn tán ồn ào hỗn loạn. Họ đến đấy ai cũng có một ý định: trừ đảng loạn thần để tôn phù họ Trịnh. Nhưng ý định ấy rời rạc vào những câu chửi bới bâng quơ, những câu gắt gỏng hão huyền. Trên đầu họ, hãy còn treo một nỗi sợ: sợ quyền thế của chính phủ. Trong bụng họ vẫn ẩn một nỗi sờn lòng: uy quyền của Huy Quận công.
Họ như một đống tiền rời chưa có dây xâu lại. Trông thì nhiều nhưng hỗn độn không thành hình gì cả. Họ như một nắm cát khô, bốc lên thì bụi mắt người ta nhưng một cơn gió thì tan đi cả.
Lúc bấy giờ giả thử Huy Quận công - hoặc kém hơn, một viên tỳ tướng nào dưới quyền Huy Quận công - cưỡi voi đến đó bắc loa lên mà thét, thì có lẽ lũ lũ đến bỏ nơi tụ hội mà kéo ra về, hoặc tệ hơn, có khi đến chạy toán loạn, chen giẫm lên nhau mà chết.
Trời tháng chín, gió thu đã bắt đầu thổi.
Trời tháng chín, tiết đã qua ngày thu phân[34], đêm đã hơi dài hơn ngày. Một khắc đồng hồ nữa thì trời sáng rõ.
Những việc âm mưu hay ưa đêm tối. Lát nữa trời sáng thì thể nào cũng tan.
Tan vì đêm làm loãng mãi nhiệt huyết vào những câu chuyện vụn vặt nhảm nhí. Tan vì tìm mãi chưa thấy một ý nghĩ cho cuộc hội họp. Tan vì đã chán nản những câu nguyền rủa vô tích sự. Tan vì đợi mãi chưa thấy một sức mạnh nào thu hợp lại. Tan vì trời sáng thấy rõ cái xuẩn động vô ý thức của mình. Lác đác đã có vài người lẻn ra sau núi Khán ngồi thừ mặt ra không biết nói gì, làm gì; đã vài bọn rủ nhau vào các làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp… ve gái.
Giữa lúc ấy một hồi trống đánh thật to. Chúng lắng tai nghe. Dứt hồi trống, một tiếng loa thét:
- Anh em đứng cả trước đền, trước cửa Tam Quan. Tôi có câu chuyện thưa cùng anh em.
Chúng túm lại đứng trước Tam Quan.
Trên chòi cửa Tam Quan bấy giờ có một người đứng thò ra ngoài giơ tay vẫy.
Chúng ồn ào:
- Bác đội Tiệp Bảo Nguyễn Bằng Võ!
Từ trên Tam Quan, Bằng Võ nói:
- Anh em đến đây ai nấy đều một lòng tôn phù Vương gia?
Chúng nghìn miệng một lời: Phải!
- Thế thì định đi thôi chứ. Ngày mai, khi tan triều đánh ba hồi trống, mỗi hồi chín tiếng làm hiệu, ba quân kéo vào giết chúng nó đi rồi tôn thế tử lên, phỏng có khó gì?
Chúng đồng thanh:
- Ông đội nói phải đó.
- Thế thì anh em theo tôi mà thề. Ai ăn ở hai lòng trời chu đất diệt.
Chúng thề xong, Bằng Võ lại nói:
- Bây giờ thì anh em về. Các bác đội ở lại ta cùng bàn việc.
Một người nói to:
- Chúng ta hãy cử ông đội Tiệp Bảo làm minh chủ rồi hãy về.
Chúng giơ thay lên đồng thanh nói:
- Thiên tuế! Thiên thiên tuế!
Một giờ sau mọi người tan. Còn ở lại có mười người: Tiệp Bảo đội quân lại Nguyễn Bằng Võ cùng chín người biện lại chín đội quân: Nội Khuông, Nội Kiệu, Nội Nhưng, Nội Dực, Nhưng Nhất, Nhưng Nhị, Thị Trung, Thị Nội, Trấn Nhất. Sau khi uống máu ăn thề, họ bàn với nhau:
- Có nên định ngày không?
- Không nên. Nhất định ngày nhỡ lộ ra họ biết họ phòng bị. Lúc nào ta cũng sẵn sàng cả, cứ nghe tiếng trống là khởi sự.
Mọi người thỏa thuận như thế.
 
*
*   *
Ở phố Cửa Nam, phường Gia Ngư, vào khoảng góc đường Gambetta (Hàng Cỏ) và đường đi xuống Ô Đồng Lầm, khu đất trường Mỹ thuật, khách sạn nhà Gare, hội sở hội Tam Điểm bây giờ, về lúc chuyện này xẩy ra, là biệt thự Viêm Quận công Nguyễn Trọng Viêm. Viêm quận là em ruột bà Chính phi chúa Tĩnh Vương. Chính phi không có con trai nên coi thế tử Khải như con đẻ vậy. Vì vậy nên những người về đằng thế tử hay lui tới nhà Viêm Quận. Theo lễ tục thì Khải và Cán đều là cháu gọi Viêm Quận bằng cậu cả, nên trong nước gọi ông là Quốc cữu. Quốc cữu có người con là Thiều Lĩnh Bá Nguyễn Trọng Thiều. Quốc cữu lại nuôi trong nhà một người danh sĩ Nghệ An tên là Bùi Bật Trực để làm bạn đọc[35] với Nguyễn Trọng Thiều.
Một hôm, ở dưới nhà học trong phủ đệ Viêm Quận, ông đồ Bùi Bật Trực tiếp một người khách. Hai người giở nắm cỏ thi ra bói. Nhặt thẻ, tính thẻ một lúc, người khách nói:
- Được quẻ phong, hảo cửu tứ, Hào tả rằng:
Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu, Ngộ kỳ di chủ, Cát. Nhật là tượng chủ, đây chỉ Cán; đẩu là tượng bề tôi, đây chỉ Khải. Nhật trung kiến đẩu: trong mặt trời thấy sao đẩu, thế là đẩu thắng nhật, bề tôi thắng chủ. Khải tất xong việc… Nhưng chưa rõ di là chỉ cái gì, chỉ ai.
- Hay là chỉ Đình Bảo?
- Không chắc.
- Thế bác thử bói quẻ nữa cho Đình Bảo xem ra sao.
Nhặt thẻ, tính một lúc, người khách lại nói:
- Được quẻ cấn, hào sơ lục. Hào tử rằng: Hệ vu câm nê; trinh cát. Hữu du vãng kiến, hung. Doanh thỉ phu, trích độc. Chỉ là lợn, trích độc là đi không tiến lên được. Đình Bảo tuổi hợi, mình lợn: Đình Bảo tất chết.
- Các ông bói việc gì thế? Sao các ông giấu tôi? Các ông cho tôi là đảng với Đình Bảo hay sao? Tôi nghe hết cả rồi.
Bùi Bật Trực vội giới thiệu ông khách:
- Đây là ông cống Bùi Dương Lịch, anh họ tôi. Không phải là giấu công tử nhưng việc chưa biết ra thế nào nên không dám nói, sợ Quốc cữu ngăn trở.
Rồi Bật Trực đem hết việc hội ở Khán Sơn ra nói cho Nguyễn Trọng Thiều nghe. Trọng Thiều nói:
- Tam quân như thế, thật lòng trung dũng đáng khen. Thầy tôi mà không theo, tôi có cách tự khắc phải theo.
Tối hôm ấy, ở nhà Quốc cữu, có cuộc hội họp bốn người: Quốc cữu, Nguyễn Trọng Thiều, Bùi Dương Lịch và Bùi Bật Trực.
Quốc cữu - Tôi vẫn biết là việc nghĩa cử hay, nhưng ném con chuột còn e vỡ cái lọ cổ quý. Thế tử hiện nay bị giam trong phủ, nếu ba quân làm loạn, họ giết mất thế tử thì hối không kịp.
Bùi Dương Lịch - Tôi tưởng hắn không dám giết thế tử.
Bùi Bật Trực - Nhưng dù sao thì tam quân họ đã quyết lắm rồi. Dòng nước trên ghềnh chảy xuống, ngăn sao cho được.
Nguyễn Trọng Thiều - Đó thầy coi! Chúng nộ nan phạm[36]. Phạm chúng nộ có khi nguy đến tính mệnh.
Câu chuyện bàn nửa ngày trời dài lắm, nhưng bốn câu trên là tóm tắt cả lại. Khi Bùi Bật Trực và Bùi Dương Lịch ra khỏi, Quốc cữu bảo Trọng Thiều bằng một giọng gay gắt:
- Lũ võ phu vô mưu chỉ làm hỏng việc, ta cấm không cho mày dự vào.
Trọng Thiều cúi đầu không nói gì. Ngay lúc ấy chàng bỏ nhà ra đi mãi đến tối mới về. Đêm hôm ấy, vào khoảng đầu canh hai, có tiếng đập cổng dữ dội. Lính mở cổng ra, thấy tràn vào một toán độ ba chục quân Tam phủ, kéo vào trước thềm, quân gọi rầm rĩ:
- Xin Quốc cữu ra quân sĩ thưa chuyện.
Trọng Viêm sai mở cửa và ra đứng ở trên thềm tiếp. Một người trong bọn nói:
- Ba quân đã quyết, xin Quốc cữu nghĩ đến cơ nghiệp Tiên Vương mà nâng đỡ cho.
Trọng Viêm trù trừ chưa kịp đáp thì trong bọn có đứa nói to lên bằng một giọng hung tợn:
- Muốn theo gương bọn Nguyễn Quốc Trinh, Phạm Công Trứ, Nguyễn Quý Cảnh thì cũng dễ.[37]
Trọng Viêm nghe câu ấy sắc mặt biến hẳn. Ông vội sai người nhà mở cửa:
- Thế hãy mời anh em vào nhà trong bàn định.
Bọn quân Tam phủ vào ngồi chật cả chiếc nhà cầu.
Trọng Viêm nói bằng một giọng run rẩy sợ sệt:
- Nghĩa khí của anh em thật đáng kính trọng vô cùng. Song muốn ném con chuột còn e vỡ cái lọ quý. Phỏng khiến anh em khởi sự mà thế tử còn bị giam trong phủ, nếu bọn kia nó tính Thế tử trước đi thì sao? Cứ ý riêng lão phu thì hãy khoan…
Chúng ồn ào:
- Khoan đến bao giờ? Khoan đến lúc thằng Huy Quận cướp ngôi, đến lúc con mụ Huệ lấy Huy Quận chăng?
- Lão phu tính như thế này: Lão phu có người cháu hiện làm Thiêm Sai ở Binh Phiên. Y lại kiêm việc Tư Thiên Giám Lệnh Sử, ra vào cung cấm và Súy phủ dễ. Để lão phu bảo y vào phủ, khải cùng Thánh mẫu để Thánh mẫu tài định.
- Việc nước đâu đến đàn bà!
- Không … Là thế này: Để lão phu bảo Thiêm Sai Binh Phiên là Nguyễn Kiêm vào khải với Thánh mẫu rằng ba quân đã quyết. Thánh mẫu lấy họa phúc bảo Huy Quận nó phải tôn Thế tử lên thay cho Tân Vương.
- Khi nào Huy Quận nó nghe.
- Anh em cứ làm như thật, lấy uy mà hiếp nó thì nó phải nghe. Nó cũng phải soi cái gương Nguyễn Quốc Trinh chứ!
Thế ngộ nó không nghe.
- Thì cứ việc làm. Nhưng lão phu tưởng như nó phải nghe.
- Chúng tôi chiều ý Quốc cữu mà đợi vậy, nhưng Quốc cữu đừng lừa dối chúng tôi. Thôi chúng tôi xin kiếu.
Nói đoạn chúng lại ầm ầm kéo ra.
Thật ra cái kế của Quốc cữu chỉ là cái kế hoãn binh cho xong chuyện. Ông chẳng vì họ mưu mô chi cả.
Ba hôm sau, quân lính lại đến nhà Nguyễn Khiêm, ép y phải thực hành lời hứa của Quốc cữu. Nguyễn Khiêm bất đắc dĩ phải vào cung nói với Trịnh Thái Phi:
- Nếu Thánh mẫu không can thiệp, tiểu thần e nguy hiểm cho nhà Quốc cữu.
Thái Phi sợ họa đến em trai mình, bèn bảo Nguyễn Khiêm đến hỏi ý kiến Quốc sư Nguyễn Hoãn. Nguyễn Hoãn bàn rằng:
- Ông về khải cùng Thánh mẫu rằng hiện bây giờ chỉ còn một cách để cứu vãn lại tình thế mà thôi. Một đường Thánh mẫu lấy chỉ bảo Huy Quận lẽ họa phúc để y nhượng bộ quân sĩ một chút. Một đường Quốc cữu bảo quân sĩ hãy chờ mấy ngày.
- Nhượng bộ thế nào? Bỏ Tân Vương đi, dựng Thế tử lên thay à?
- Được như thế thì càng hay, bằng không thì ta làm như thế này…
Nguyễn Hoãn nghĩ một lúc lâu rồi nói tiếp:
- Ta làm như thế này: ta bắt chước như kiểu cũ, như kiểu Nghị Tổ[38]nhiếp chính hồi Dụ Tổ[39]. Rồi thảo sẵn hai tờ ý chỉ.
- Quốc sư thảo ngay đi để tôi đưa cho quân sĩ xem cho chúng yên bụng đã.
Nguyễn Hoãn lấy giấy bút thảo ngay hai tờ ý chỉ rằng:
"Thánh Tổ Thịnh Vượng ý Hòa Thái Phi ý chỉ:
Nước có Trưởng Quân là phúc cho xã tắc. Nay ta xét: Tân vương tuổi còn thơ ấu lại bệnh tật luôn luôn; vương trưởng tử Khải tuổi đã hai mươi, xứng kế tự liệt tiên vương. Vậy dựng vương trưởng tử lên thay tiên vương, phế Tân vương xuống là Cung Đức công cho yên lòng thần dân và yên xã tắc.
Kính vậy thay, ý chỉ".
"Thánh Tổ Thịnh Vương ý Hòa Thái Phi ý chỉ:
Ta xét rằng: tân quân hiện còn ấu trùng, việc nước chưa đủ chủ trương, Vương quí tử Khải xét là người quả đoán minh mẫn; xưa kia Dụ Tổ Thuận Vương ốm yếu, Nghị Tổ Ân Vương là em quyền quốc chính thay anh. Vậy theo gương cũ liệt tiên vương, cất Khải lên làm Tiết Chế Thủy Lục chư quân để coi việc nước đợi đến lúc Tân Vương đủ tuổi coi việc nước.
Kính vậy thay, ý chỉ!"
 
*
* *
 
Nhà văn - nhất là những nhà văn cổ, còn chịu ảnh hưởng Hán tự nhiều, - mỗi khi nói đến thành phố Hà Nội là dùng đến mấy chữ Nùng Nhị, Nùng Khán, tức là dùng danh sơn danh thủy để chỉ đất. Vì thế Nùng Sơn và Khán Sơn mới nổi tiếng. Thật ra, Nùng Sơn và Khán Sơn không đáng gọi là sơn là núi chi cả, trừ ra khi nào theo sự hiểu riêng của các nhà địa lý mà đống đất cao không đầy một mét cũng gọi là sơn (cao nhất thốn giả vi sơn: cao một tấc cũng là núi). Bà con Hà Thành ai còn lạ gì cái mô đất cao chưa đầy hai từng nhà tây cao, rộng độ bằng mẫu đất, nằm gọn thon lỏn đằng sau cái chuồng dài nuôi chim khỉ rắn rết trong trại Bách thảo nữa. Đó Khán Sơn đó. Còn Nùng Sơn? Hiện bây giờ mất rồi, nhưng hai mươi năm trước đây - vào khoảng năm 1918, 1919 gì đó - hãy còn. Ngày ấy nó chỉ còn là cái mô đất rộng chừng hai gian nhà, cao chừng vài ba thước tây, ở bên cạnh con đường République (trước cửa học hiệu Albert Saraut, thẳng cửa phủ Toàn quyền ra). Chắc trước kia nó cũng cao rộng như Khán Sơn. Sau vì cần việc lấp những vũng để làm đường, người Pháp mới gọt dần nó đi. Đến khi trường Albert Saraut khởi công thì "Núi Nùng" quí báu của nhà văn mới bị bạt hẳn cho khỏi bẩn mắt.
Núi Nùng, núi Khán, xét đến nguồn gốc chẳng qua cũng là hai ụ đất đắp lên khi nhà Lý đóng đô ở thành Thăng Long. Nhà bác học Trung Quốc đời nhà Tống là Mã Đoan Lâm (Ma Touan Lin) có để lại cho ta một đoạn văn ký sự về thành Thăng Long có đoạn rằng:
"Cung điện dinh thự ở trong một cái thành chu vi chừng ba nghìn bộ. Trong thành, đắp lên nhiều mô đất để sửa lại phong thủy hình thế…".
Những mô đất ở giữa khu Trường Đấu mã và vườn Bách thảo chắc cũng là những mô đất ấy.
Núi Nùng, núi Khán, xem vậy là núi nhân tạo, nên cũng theo cái tính xuềnh xoàng tèn tẹt của dân ta mà bé nhỏ. Thật ra, hai "quả núi" ấy, giá gọi là đồi cũng là quá lạm rồi…
Đồi Khán Sơn lại có cuộc hội họp thứ hai của quân Tam phủ.
Quá tiết thu phân hơn mười ngày rồi, ngày đã hơi ngắn rồi. Thế mà từ giờ Dần, lác đác đã có người đến. Đến đầu Mão người đã bắt đầu đông, số nhiều là quân Tam phủ. Ngoài giả một số đông người háo sự cũng đến họp mặt cho vui. Lần này quân sĩ đã có định kiến rồi nên họ không ồn ào như lần trước nữa. Trông những nét mặt đăm đăm không rằng không nói, biết là nỗi căm tức của họ lên đến cực điểm là lòng họ đã quyết lắm rồi. Có anh, sốt ruột hơn, hỏi anh em:
- Thế nào? Bao giờ?
Thì người bị hỏi dường như lấy làm khó chịu, xua tay một cái rồi gắt:
- Lát nữa, hỏi mãi.
Một đám đông người yên lặng thật đáng sợ hơn một đám đông người ồn ào. Họ yên lặng nghĩa là họ dồn hết nhiệt thành, nghị lực, dũng cảm vào trong. Họ ồn ào là họ chưa đủ nhiệt thành nghị lực dũng cảm để ngăn ngừa những cái cử chỉ hỗn độn vô nghĩa, những câu cãi vã vô ích. Nước thác nghe thì rức tai, trông thì hoa mắt nhưng nhiều khi có nguy hiểm bằng đám nước phẳng lặng đâu? Sâu ngập tầm đó, nhưng nếu ai tưởng làn nước ruộng thấp ngang tay mà bước xuống thì chết không kịp ngáp. Nông choèn choèn một gang nước đó, nhưng bờ cao, thành đứng, mặt trong, mượn bóng trời mây cây cối, có kẻ cho là vực thẳm chưa dễ đã dám bước chân xuống.
Đầu giờ Thìn, một tiếng loa hét từ đỉnh đồi Khán Sơn vang động ra:
- Xin anh em đứng tụ cả ở dưới sườn núi, chân núi!
Mọi người túm quanh nghe. Trên đồi lại có tiếng loa:
- Huy Quận nhất định không chịu nhượng bộ. Y nhất định cứ thói nào tật ấy. Vậy anh em nghĩ sao?
Ầm ầm như sấm vang, tiếng quanh đồi thét lên:
- Giết chết thằng quận Huy! Đem con đĩ Phù Đổng cho voi dầy!
Tiếng loa trên đồi:
- Vậy anh em nhớ kỹ. Ba hồi trống, mỗi hồi chín tiếng!
- Bao giờ? Bao giờ?
- Ngày mai, khi tan phiên chầu sớm. Bây giờ, ai nấy đi về.
Mọi người kéo nhau ra về.
 
 
*
* *
 
Thế tử Khải đương nằm trong ngục đọc thơ. Ông ngâm lại câu thơ năm trước ông làm một đêm trong ngục khi tiếp được một phong thư bí mật quăng qua cửa sổ, báo tin những người chết, bị xử tử năm ấy.
Dạ bán kinh hoàng đắc báo thư
Khai giam phách án, nhất kinh hô
Chư quân đáo thử ngô hà vọng?
Thiên đạo như tư, cổ sở vô.
Đêm hôm ấy, bóc phong thư xem xong, Thế tử buột miệng đọc thành bốn câu thơ ấy, rồi cũng không bụng dạ nào mà nối thêm nữa. Hôm nay rỗi, nghĩ lại, Thế tử muốn nối thêm bốn câu cho nó thành bài thơ mà nghĩ mãi chưa ra câu nào hay cả. Bốn câu thơ ấy năm xưa buột miệng đọc ra một hơi, nay đối tượng hoàn cảnh và tâm trạng không giống xưa nữa nên không sao nối cho thơ nhất khí được. Rồi Thế tử nghĩ vẩn vơ một mình:
- Hay là số phận mình cũng như bài thơ kia, có trước không có sau, có đầu không đuôi![40]
Còn đương vơ vẩn nghĩ thì đùng đùng đã thấy tiếng người rầm rập từ xa chạy đến.
- Cái gì thế này? Họ đã khởi sự rồi chăng?
Quân lính sập đến phá cửa:
- Bẩm ba quân đã giết chết Hoàng Đình Bảo, xin rước Thế tử ra Phủ đường.
Thế tử chưa kịp đáp thì bọn lính đã cõng Thế tử lên vai chạy ra cổng Tả Xuyên đường.
III
 
Lầu Ngũ long
Bốn năm sau.
Đoan Nam Vương Trịnh Khải làm chúa đã được bốn năm. Trong bốn năm ở ngôi cao, bao nhiêu việc thương tâm bực lòng đã xẩy ra. Trước hết là cái loạn Kiêu binh. Nguyên từ xưa Đoan Nam vương cũng biết thừa rằng quân Tam phủ - bọn quân mà nhà nước cùng dân gian đã gọi là Kiêu binh - là con dao hai lưỡi. Dùng thì được việc, nhưng khi đến lúc trái thói muốn làm loạn thì cũng khó trị. Chẳng qua là lúc vô kế khả thi, phải dùng liều vậy. Chơi dao thì có ngày đứt tay, Khải đã ngập ngừng đôi ba phen. Sau cùng, bất đắc dĩ phải dùng vậy.
- "Chơi dao thì đứt tay. Ta thử chơi dao không đứt tay một phen xem sao! Con ngựa hay phần nhiều là con ngựa có nết xấu, nhưng người kỵ mã giỏi thì sợ gì nết xấu mà bỏ con tuấn mã không dùng! Kiêu binh là quân đã giúp nhà nước dẹp bao nhiêu loạn, đã quen chiến trận, nước nhà một mai cũng phải dùng đến. Ta làm chủ trăm họ thì có thể sao không có quân tinh nhuệ được? Vả chăng, không dùng thì bỏ chúng vào đất nào? Bỏ chúng đi đâu? Con ngựa bất kham bỏ rông có lẽ nguy hiểm còn hơn đem ra mà dùng. Tiên vương dùng được thì sao ta lại không dùng được".
Ông nghĩ thế, nhưng tình thế nó lại xoay ra khác. Điều nghĩ cuối cùng của ông: "Tiên vương dùng được, sao ta lại không dùng được" hơi sai. Kiêu binh xưa kia tuy kiêu hãnh nhưng sự kiêu hãnh ấy do chiến công mà ra. Họ chỉ kiêu hãnh với các quan văn mà họ cho là vô ích cho nhà nước, họ chỉ kiêu hãnh với dân gian mà họ cho là vì họ mới được yên ổn làm ăn. Nhưng đối với … chúa - nhất là đối với chúa - họ chưa từng dám nghĩ ngợi gì tới, họ vẫn cho là một người thần thánh……..(KD xóa)……, có mất quyền chăng nữa cũng chỉ do trời cất mệnh đi mà thôi. Đối với quan võ họ vẫn coi là người thầy họ. Từ khi họ đã từng trăm trận trông thấy phất cờ thét loa chỉ huy trên mình voi, từ khi ấy, họ coi thường cả quan võ. Ông tướng coi vạn quân, ông tướng đánh dư trăm trận kia họ còn móc trên mình voi xuống mà giết được thì các quan võ khác, họ còn coi ra chi? Từ khi họ nổi loạn lên, từ khi họ cõng một người tù là Thế tử Khải đặt lên ngôi báu một vị chúa, từ khi ấy họ coi thường nốt cả người mà xưa kia họ không dám nghĩ ngợi tới, người mà xưa kia họ vẫn coi là thần thánh bất khả xâm phạm.
Thế là từ ngày ấy trong tâm lý họ có một điều thay đổi lớn: họ coi thường cả chúa cùng các tướng. Sự coi thường ấy trước còn tiềm ẩn, sau dần dần lộ ra.
Điều ấy, chúa Đoan Nam vương không nghĩ trước tới. Không nghĩ tới điều ấy, ông chỉ nghĩ cách thu phục họ thôi. Thu phục làm sao? Muốn là ông chúa tể một nước, thì điều cần nhất là làm cho người ta kính sợ, chứ đừng để cho người ta thương. Thương là trông xuống, kính sợ là trông lên. Quân sĩ thần dân đã trông xuống mà thương thì cũng khó lòng mà thu phục nổi người ta.
Cách đầu tiên mà chúa Đoan Nam thi thố để mua chuộc Kiêu binh là cho tiền, cho phẩm tước. Làm như thế chỉ tăng thêm lòng kiêu hãnh lên mà thôi. Ông quận lại Nguyễn Bằng Võ với ông Suy Trung Dực Vận Công thần, Thị Nội hầu Nguyễn Bằng Võ thì cũng vẫn là một, vẫn là người đã "dựng ngôi chúa" lại thêm cái vẻ khỏng khảnh quan lớn nữa thôi.
Hơn nữa chúa Đoan Nam lại ban cho họ những "không đầu sắc"…[41] để họ được tự do điền tên người họ thân yêu vào. Làm như thế tức là đem sẻ một phần quyền bính chí tôn của mình cho người khác.
………..
………..
………..[42]
Vì chúa Đoan Nam vụng suy ở chỗ đó nên năm Quí Mão (Cảnh Hưng thứ 44, mấy tháng sau khi chúa Đoan Nam được dựng) mới có việc quân Tam phủ đòi dựng Hoàng tôn Duy Kỳ lên làm Hoàng thái tôn. Thế là ngôi chúa ở tay họ ra, ngôi Thái tôn - ngôi hoàng đế trừ bị - cũng ở tay họ ra.
Được đằng chân lân đằng đầu, Đoan Nam vương bấy giờ mới rõ rằng không thể thu phục được nữa mà phải trị, không thể nhu nhược nữa mà phải cương. Vì thế ngày rằm tháng hai năm Giáp Thìn, Đoan Nam vương theo cái thuyết "triết trợ" của Quốc cữu Dương Khuông chém bẩy tên Kiêu binh.
Dương Khuông bày kế rằng: "Một nắm đũa khó bẻ, xé lẻ ra từng cái thì dễ bẻ. Nay cứ bắt tội từng tốp năm ba đứa rồi dần dần phải hết".
Thuyết "triết trợ" (bẻ đũa) của Dương Khuông chậm quá mất rồi. Nhà chúa mới bẻ tạm có bẩy cái đũa mà quân Tam phủ kéo nhau ngay đến cửa Súy phủ làm loạn, đòi giết Dương Khuông và người giúp tán thành mưu ấy là Chiêm Võ. Chúa Đoan Nam phải nuốt nước mắt mà cho Chiêm Võ ra khỏi cung để quân Tam phủ băm chém.
Rồi, năm sau, Điền Nhạc hầu Nguyễn Điền đem quân tứ trấn về dẹp loạn Kiêu binh. Lại một hồi tàn sát. Kiêu binh trừ hết.
Nhưng trừ vừa hết Kiêu binh thì ngoài cõi lại có việc dụng binh. Rồi kế tiếp toàn những tin không hay cho nhà Trịnh. Từ đầu năm nay[43] mỗi khi phi kỵ trong Nam ra là một lần chúa Đoan Nam tiếp được một tin buồn.
Hai mươi bốn tháng tư: đồn Hải Vân quan vào tay quân Tây Sơn, tướng giữ ải là Hoàng Nghĩa Quyền chết trận. Mồng một tháng sáu: thành Thuận Hóa mất, chủ tướng là Tạo Quận công Phạm Ngô Cầu hàng giặc; phó tướng là Thể Quận công Hoàng Đình Thể cùng hai con và Kiêu Kim hầu Võ Tá Kiên chết trận.
Mười hai tháng sáu: Nghệ An thất thủ, trấn thủ Bùi Thế Đạt bỏ thành chạy.
Rằm tháng sáu: Thanh Hoa thất thủ, trấn thủ Tạ Danh Thùy chạy.
Hai mươi tháng sáu: Quân Tây Sơn phạm trấn Sơn Nam Hạ.
Cho tới hôm nay, một mình ngồi trong phủ chờ tin đạo quân của Thái Đình hầu Trịnh Tự Quyền. Từ hôm nghe tin Nghệ An thất thủ Trịnh Vương đã phái Thái Đình hầu thống 27 cơ quân đi cự địch. Thế mà y trùng trình mãi đến hôm hai mươi hai mới đi. Y đi được nửa ngày thì có phi kỵ về báo rằng thành Sơn Nam đã thất thủ, trấn thủ Trương Trung hầu Đỗ Thế Dận cùng đốc đồng Nguyên Huy Binh đã bỏ trốn, tướng tiên phong là Liên trung hầu Đinh Tích Nhưỡng đem thủy quân lùi về đóng ở cửa Luộc cũng bị vỡ.
Nửa ngày sau, tức là sáng hai mươi ba lại có phi kỵ báo về: Thái Đình hầu đóng thủy quân ở khúc sông Câm Động thấy quân Liễu Trung hầu thua ở cửa Luộc, quân tự tan rồi.
Đó là tình thế ở ngoài cõi.
Còn tình thế ở trong.
Dân chúng, kẻ giầu chôn của rồi bồng bế nhau đi tránh loạn; kẻ nghèo không có của chôn, nhưng cũng lũ năm lũ bẩy kéo nhau đi. Khi ấy kinh thành mới phơi hết những cái bẩn thỉu cả tinh thần lẫn vật chất. Cái giọng sụt sùi oán vọng của bọn nhà giàu đến khi vận hết cửa tan, đi cặp đôi với mớ khố rách áo ôm của nhà nghèo ngoài các cửa ô. Những bọn người háo sự, những bọn du côn thì kéo nhau ra đường dò la tin tức và chờ xem một cảnh tượng mới mẻ lạ lùng.
Đoan Nam Vương đứng ngồi không yên, nóng lòng sốt ruột. Giặc gần đến kinh thành rồi, mà các quan chưa một ai vào nhập thị. Cho hỏi thì lác đác trốn đi gần hết.
Chiều tối hôm hai mươi bốn mới thấy bọn Phạm Quí Thích, Lý Trần Quán, Phạm Đức Ninh, Phạm Trọng Huyên, Trần Công Sán vào. Đoan Nam Vương hỏi:
- Thế giặc ra sao?
Trần Công Sán nói:
- Thế giặc như chẻ tre, nội nhật ngày kia là cùng thì chúng phạm tới kinh thành.
- Ý ta định chạy lên Sơn Tây rồi lấy quân của Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ về đánh giặc, tiên sinh[44] nghĩ sao?
Trần Công Sán nói:
- Nhân tâm không trông cậy được nữa. Chúa thượng ra khỏi thành thì là ông chúa chạy loạn, thần chắc không một ai theo đâu. Kinh sư là gốc nước, chúa thượng phải ở lại giữ gìn. Bỏ đi tức là bỏ gốc nước, bỏ gốc nước thì nhân tâm đã tán loạn càng thêm tán loạn. Chúa thượng chỉ nên rước Thái phi, nguyên phi, nguyên tử, tam cung cùng lục viện ra ngoài thành. Chúa thượng cùng lũ chúng tôi ở lại giữ thành. Thành còn là nhờ uy linh tiên vương, mà thành mất thì vua tôi cùng chết cho xã tắc!
Trịnh vương cúi đầu ngẫm nghĩ…
Phạm Quí Thích nói:
- Nay chúa thượng truyền cho các quan hai trấn Kinh Bắc và Sơn Tây hiệu triệu dũng sĩ trước để phòng sự bất trắc.
- Ta đã cho triệu Sơn Tây Trấn thủ về kinh đánh giặc, giữ Kinh sư, nhưng chưa thấy tin tức gì. Bây giờ thì sao cho kịp nữa.
Trần Công Sán nói:
- Hoàng tướng quân thế nào cũng mang quân về. Nhưng vẫn phải hiệu triệu sẵn dũng sĩ hai trấn Tây, Bắc để phòng khi Kinh sư thất thủ.
Chúa Trịnh gật và hỏi những ai đem truyền từ đi đâu. Lý Trần Quán xin đi hạt Từ Liêm, Phạm Đức Ninh hạt Gia Lâm, Chu Hi Thích hạt Đông Ngàn, Trần Công Sán, Phạm Quí Thích, Nguyễn Đường xin ở lại cùng xã tắc tồn vong. Phạm Quí Thích thảo xong truyền từ, xin lấy phong từ[45] đóng dưới. Truyền từ thảo xong, người nào việc người ấy. Trong phủ chỉ còn Trần Công Sán, Phạm Quí Thích và Nguyễn Đường.
Đêm ấy mấy vua tôi cùng ngồi ở Tiểu Bồng điếm nghe dò tin tức.
Nửa đêm có tiếng đập cổng mạnh. Ai cũng tưởng là phi kỵ về báo tin nguy cấp gì. Lính nói to:
- Có Sơn Tây Trấn thủ Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ cùng tám vị công tử xin vào hầu.
Chúa Trịnh mừng rỡ, lập tức cho vời Hoàng Phùng Cơ vào. Phùng Cơ sụp xuống toan lậy thì Trịnh Vương đỡ dậy hỏi:
- Quốc thế nguy vong, công có kế gì giúp ta?
Phùng Cơ đáp:
- Thần chịu ơn sâu của Nhà nước, nghĩa vụ làm võ tướng là phải đánh giặc, thần xin đem quân bản bộ cùng tám con thần cùng ra chống giặc. Nhược đánh được, đó là nhờ uy linh của chúa thượng; bằng thế cùng lực tận, cha con thần xin chết theo xã tắc để yết kiến Tiên vương dưới Cửu toàn.
Trịnh Vương cầm tay Phùng Cơ, rưng rưng nước mắt:
- Vạn nhất làm sao thì ta cũng chết theo xã tắc. Bây giờ thế đã gấp, khanh nghĩ nên bố thế trận ra làm sao?
- Hiện nay tình thế đã gấp. Đinh Tích Nhưỡng thua ở cửa Luộc, Trịnh Tự Quyền quân vỡ ở Câm Động. Thủy quân của giặc chỉ còn cách kinh sư hai trăm dặm. Đường thủy trở nên xung yếu. Thần xin chúa thượng sai Ngô Cảnh Hoàn đem thủy quân đóng ở bến Thúy Ái làm tiền quân án ngữ đường tiến của giặc. Thần xin đem quân bản bộ hợp với tàn quân của Đinh Tích Nhưỡng và Trịnh Tự Quyền đóng khắp từ bến Thúy Ái đến Tây Long Chử. Còn ở kinh sư thì chúa thượng khiến Bùi Huy Bích làm Thị sư. Chúa thượng thân ngự ra lầu Ngũ Long đốc chiến. Hiện quân năm doanh còn đủ để bầy thành thế trận. Tả quân đóng ở Tây Long Chử, làm hậu thuẫn cho hạ thần; hữu quân đóng ở Tây Hổ Chử, phòng lúc tiền quân đổ thì tiếp ứng; tiền quân đóng từ cửa Đại Hưng đến cửa ô Trường Bắn, là quân thụ địch đầu tiên; trung quân đóng ở trước Ngũ Long Lâu, hộ vệ cho thánh giá. Vạn nhất có sao nữa thì ta cũng còn giữ vững được kinh thành, chờ quân cứu viện các nơi đến.
Trịnh Vương gật đầu khen phải và cởi thanh kiếm "Phượng Huy" đeo bên mình trao cho Hoàng Phùng Cơ. Lại sai quan giữ kho lấy ra năm vạn lạng bạc để khao quân sĩ.
Hoàng Phùng Cơ lĩnh kiếm, đoạn lạy tạ chúa Trịnh xin lui để còn sắp đặt quân ngũ.
Trịnh Vương đưa quận Thạc ra tận thềm, cầm tay ân cần dặn:
- Quốc gia tồn vong ư thử nhất cử, công kỳ miễn chi.[46]
Khi xưa câu nói nào trịnh trọng kính cẩn thường dùng toàn bằng chữ Hán. Chữ nho, thường chỉ dùng nói với văn thần, nay Trịnh chúa đem nói với võ thần là có ý coi Hoàng Phùng Cơ trọng hơn người khác. Phùng Cơ nghe mười hai chữ nho ấy, cảm động đến khóc:
- Thần làm sao mà báo được ơn tri ngộ này.
Vua tôi cùng khóc chia tay.
Trịnh Vương nhìn theo hồi lâu mới trở vào, hơi được yên dạ. Khi vào, cúi xuống ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi tên tiểu hoàng môn[47]:
- Xem đồng hồ xem đến canh mấy rồi?
Tiểu hoàng môn vào xem rồi ra:
- Trình: giọt rồng tắc không chảy dễ chừng đến hai ba khắc rồi. Cái dạ thiên hồ đã gần đầy, phỏng chừng cũng đến quá canh ba, sang canh tư rồi.
Trịnh Vương quay lại bảo Nguyễn Đường:
- Khanh người vùng Kinh Bắc giáp Sơn Tây, lại làm quan ở Sơn Tây hẳn biết rõ nhân dân cùng địa thế hai vùng ấy?
- Thần biết rõ lắm. Vương thượng hỏi làm gì?
- Ta hỏi phòng khi kinh sư thất thủ thì ta cùng khanh đi lên vùng ấy. Khanh đưa lối cho ta. Lúc nước loạn, nhân tâm bất trắc lắm. Đi vào chỗ lạ, ta e có cái vạ như Lý Tự Thành chết trong tay mấy đứa nông phu.
- Thần xin hết sức. Vạn nhất kinh thành thất thủ, thần xin lúc nào cũng không rời xa chúa thượng nửa bước. Nhà thần từ đời đức Thánh tổ[48] bẩy đời khanh tướng, chịu ơn của Nhà nước đã nhiều, nhẽ nào lại không hết dạ trung trinh.
- Cha khanh vì ta mà bị biếm truất[49]. Tiếc rằng khi ta thừa thống cha ngươi lại mất rồi, không thì thế nào ta cũng cất lên chính phủ đại thần. Cha ngươi khi xưa ở ngoài biên trấn Tiên vương đã khen là mưu sự chi mẫn, lự sự chi chu, chân thị lão thành trị trọng[50]. Vì thế mới được cát lên Đài quan. Sau chỉ vì khuyên Tiên vương dựng ta làm Thế tử mà bị truất biếm ra ngoài biên giới.
- Thần cũng có nghe nói như thế.
- Khi ta nhập phủ thừa thống, ta có giở những tập phiến tấu mấy năm xưa ra. Suốt mấy trăm tập khải, duy có cha ngươi có bản khải nói vì ta. Lúc đó, cử triều như câm điếc cả. Ta tiếc cha ngươi lắm. Giá còn đến bây giờ.
Vua tôi nói chuyện xong thì trời gần sáng.
Ngoài thềm, hai con voi "Quận Đông", "Quận Tê" đã phủ phục sẵn. Thị sư Bùi Huy Bích vào tâu:
- Xin vương thượng lên voi ra Ngũ Long Lâu. Thần đã giàn xong trận.
Trịnh Vương lên con "Quận Đông", Bùi Huy Bích cùng Nguyễn Đường lên con "Quận Tê".
Trên mình voi, Trịnh chúa nói:
- Phạm Quí Thích cùng Trần Công Sán về Nghị Sự đường thu lấy ấn tín lục phiên rồi rước Thánh mẫu cùng nguyên phi ra ngoài thành.
 
*
*   *
Lầu Ngũ Long hôm nay bầy ra một cảnh tượng khác ngày thường.
Trên lầu, ngoài lan can, hai bên bày hai khẩu súng thần công bằng đồng, hai khẩu súng người Hòa Lan đúc hộ ở lò Phố Hiến từ ngày chúa Tây Vương. Quanh hai khẩu súng, lính áo nẹp ngỏ ngòn cầm mã tấu sáng quắc, đội quân Nội Kiệu. Ở giữa, dưới bóng chiếc tàn vàng, chúa Đoan Nam vương, mình mặc áo bào vàng chẽn tay, ngoài thắt dây lưng đỏ, đầu đội mũ đâu mâu. Trước mặt Trịnh Vương, kê một cái trống quân thật to. Xưa kia trên lầu ấy người ta chỉ quen xem các quan đứng cùng chúa Trịnh mỗi khi có khoa thi đình, truyền lô[51] gọi các ông tiến sĩ mới vào điện Quang Minh lĩnh mũ áo cân đai. Bây giờ, chỗ xưa kia dùng để phô cảnh tượng thái bình thịnh trị, đem dùng làm hổ trướng cho vị Đại nguyên suý Trịnh Vương chỉ huy sĩ tốt.
Trước lầu, trên một bãi cỏ rộng, quân đóng thành hàng sát đến Thủy Quân hồ. Chỗ các ông nghè mới nghe truyền lô, bây giờ là chỗ cắm ngọn cờ đỏ to bằng sáu bảy chiếc chiếu, trên thêu mấy chữ Bùi Thị sư. Lá cờ mở ra cuộn vào, phấp phới trước gió, khi mở ra người nào để ý còn nhận thấy nét sổ chữ mới thêu được một nửa, thành ra chữ trông thấp bèn bẹt. Một đêm hôm qua, vừa sắp đặt quân, vừa thêu cờ, mà chỉ thiếu có nửa nét chữ tưởng cũng là mau mắn chu đáo và mẫn tiệp lắm rồi. Có người chỉ ngọn cờ, cười mà bảo nhau:
- Quan Hành Bùi[52] coi một đạo quân què chân.[53]
Dưới chân lầu, về phía trong thành, mấy con voi đứng vẫy đuôi dập chân hình như chúng được thấy cảnh tượng chiến trận thì nhớ lại những công việc xưa, sốt ruột muốn xông vào trận địa.
Dưới thành, phía ngoài, quan Thị sư Bùi Huy Bích cưỡi con ngựa trắng chạy đi chạy lại hàng quân.
Trời tháng sáu, gió nồm thổi mạnh.
Trời tháng sáu, ánh nắng hè như nung đúc. Một lúc, mây kéo kín cả một vùng trời. Thành Thăng Long như bị một cái bát lớn úp lên trên, hãm sức nóng lại, oi ả bức sốt lạ lùng. Gió nổi càng to, cuốn lên trời từng đám mây bụi cát. Ngọn cờ bị gió thổi mạnh như muốn nhổ cả cột mà bay.
Một lát, trời đổ một trận mưa như dội nước xuống. Quân lính ướt hết, nhưng vẫn giữ bền chỗ, vì trên lầu Ngũ Long, chúa Đoan Nam vương một tay vuốt mặt, một tay cầm dùi trống đánh liên thanh; dưới bãi cỏ, quan Thị sư Bùi Huy Bích vẫn ra roi cho ngựa chạy lên chạy xuống, sang tả, sang hữu.
Mưa ngớt dần, rồi tạnh hẳn. Trời lại quang quẻ như trước. Ánh nắng xiên khoai chiếu ngang hàng quân cờ đào nón đỏ, như tô thêm vẻ hùng tráng uy nghi.
Gió vẫn thổi mạnh.
Một lát áo quần cờ quạt lại khô, lại phấp phới lập lòe trước ngọn gió nam, dưới bóng nắng về chiều.
Gió vẫn thổi mạnh.
Bây giờ mỗi ngọn gió lại thoảng đưa lại tiếng người hò hét. Chắc là quân Hoàng Phùng Cơ đang cùng giặc giao chiến.
Tiếng đưa lại nghe kỹ, trong lại có tiếng kêu khóc: chắc là chiến sĩ bỏ mình trọng thương trong trận kêu gào.
Tiếng nghe mỗi phút một to thêm. Chắc là trận đánh gần lắm rồi. Trên lầu, Đoan Nam Vương vẫn vững tay cầm trống. Dưới lầu xì xào tiếng kháo trong quân:
- Tiếng gần lắm, dễ thường đánh nhau ở Tây Long Chử rồi.
Từ đằng xa một con ngựa phi hết nước chạy lại. Ngựa dừng ở lầu Ngũ Long. Mọi người nghe ngóng. Người xuống ngựa, tiếng nói còn hổn hển:
- Trình Chúa thượng. Giặc đã phá tan quân Ngô Cảnh Hoàn ở bên Thúy Ái. Ngô Cảnh Hoàn đã gieo mình xuống sông tuẫn quốc…
Đoan Nam Vương dừng tay trống bảo lính bắc loa truyền quân:
- Giặc đã phá quân ta ở Thúy Ái. Vương thượng truyền ba quân tề chỉnh để đánh giặc.
Răm rắp quân lính cầm súng, gươm, mã tấu lên tay.
Đồm độp lại một phi kỵ thứ hai đến báo tin.
- Thạc Quận cùng giặc đánh nhau ở Vạn Xuân Hồ. Quân ta đổ, sáu công tử Thạc Quận tử trận. Giặc đã phạm đến cửa ô Trường Bắn. Tiền quân đang giao chiến. Thế nguy.
Đoan Nam Vương dừng tay trống. Loa lại cất lên:
- Giặc đã phạm đến địa phận kinh sư. Vương thượng truyền ba quân cùng hết sức rồi tuẫn quốc cùng Vương thượng.
Quân lính hăng hái reo lên:
- Vương gia thiên tuế!
Gió nam vẫn thổi mạnh. Theo ngọn gió, tiếng kêu gào càng to càng gần. Trời đã xế bóng, mặt trời đã khuất sau đám mây trên đỉnh núi phía tây.
Tiếng kêu càng to càng gấp. Trước còn chưa rõ lắm, sau nghe rõ cả tiếng người chạy.
Trên lầu Ngũ Long, chúa Trịnh vẫn cầm dùi đánh trống thúc quân. Nguyễn Đường nói:
- Tình thế nguy ngập quá. Xin Vương thượng bỏ lầu lên voi ra trận. Thần xin liều chết báo ơn Vương thượng.
Đoan Nam Vương xuống lầu lên voi. Giặc đã đánh đến trung quân. Quân Trịnh trước còn hăng hái, sau thấy thế không sao địch nổi cắm đầu chạy, dẫm lên nhau mà chết.
Trên mình voi, Đoan Nam Vương vẫn cố cầm quân. Đội quân Nội Kiệu hăng hái lăn xả vào quân địch mà chém giết.
- Xin chúa thượng thay quần áo xuống voi, có cố nữa cũng vô ích.
Sẵn quần áo trên bành voi, Đoan Nam Vương thay quần áo rồi bảo tượng lô đánh voi chạy ra phía hồ Minh Đường.
Tới hồ Minh Đường Trịnh Vương bỏ voi lên ngựa cùng vài chục tàn quân và Nguyễn Đường chạy lên phía cửa ô An Hoa. Con voi "Quận Đông" chạy theo. Trịnh Vương dừng ngựa lại. "Quận Đông" quỳ xuống để Trịnh Vương lên.
Trịnh Vương nói:
- Thôi Quận Đông! Ngươi ở lại, theo ta làm gì?
Khi con voi thấy chủ nó quất ngựa đi, nó lại đứng dậy chạy theo. Trịnh Vương quay ngựa lại thì nó lại quỳ xuống. Cảm động Trịnh Vương nói:
- Thôi "Quận Đông" ta biết lòng trung dũng của ngươi rồi. Ngươi ở lại để ta chạy. Ta cũng chưa biết sống chết thế nào đây! Thôi, ngươi ở lại, may ra ngày kia vua tôi lại gặp nhau. Lần này, nó không chạy theo nữa, nhưng cứ quỳ mãi cho tới khi không thấy hút người đâu. Đằng xa ngoái cổ nhìn lại, Trịnh Vương phải sa hàng lệ.
Đến cửa ô An Hoa, trời vừa sẩm tối.
Khỏi cửa ô An Hoa, con đường đi vào giữa một bên bãi cát sông Nhị Hà, một bên những lạch ao cạnh Hồ Tây. Đến địa hạt làng Quảng Bố, lắng tai nghe có tiếng xì xào rồi trong đám xì xào có tiếng quát:
- Những thằng nào kia? Đi đâu?
Nguyễn Đường lên tiếng:
- Quan quân đi có việc cần.
Đám người xì xào bỗng ùa lên, đứa đốt đuốc đứa cầm gậy:
……….
……..[54]Anh em, đánh chết…. đánh chết không còn đứa nào.
Trịnh Vương quất ngựa chạy.
Quan quân đi theo, người bị dân đánh chết, người chạy được. Thế là, còn một người bày tôi tay chân và vài chục quân hộ vệ cuối cùng, Trịnh Vương cũng mất nốt.
Trên đường Quảng Bố đi Nhật Chiêu, Đoan Nam Vương một mình một ngựa lủi thủi trên con đường lạ, chưa biết còn yên lành qua đêm nay hay không! Tới đây, Trịnh Vương mới thấy hết cái di họa của lũ quân Tam phủ cùng lũ ô quan tham lại. Chúng kết án với dân đến nỗi rằng bị dân coi như cừu thù. Đằng xa le lói có bóng lửa. Trịnh Vương ngửa mặt lên trời:
- Trời ơi! Kia lại là một làng xóm. Không biết dân gian có để ta yên không?
Người khác, lúc khác đi đường đêm, thấy có đèn lửa thì mừng; Trịnh Vương, lúc này, đi đường đêm, thấy có đèn lửa thì sợ. Nhưng thôi, cũng liều nhắm mắt mà thả cương cho ngựa đi từ từ. Vội vàng, lúc phải chết cũng vẫn chết. Bất giác buột mồm, Trịnh Vương lại đọc lại câu thơ năm nọ:
Thiên đạo như tư, cổ sở vô.
…….[55].
Những lúc này mong làm thằng thất phu không được!
Bóng lửa tiến đến gần. Dưới bóng sáng mập mờ khi tắt khi cháy, Trịnh Vương nhận thấy một người cầm đuốc. Trịnh Vương dừng ngựa lại xem người kia đến làm trò gì. Khi tới gần, người kia tay nắm cương ngựa, tay soi đuốc lên tận mặt nhìn đi nhìn lại thật kỹ, rồi hỏi:
- Trưởng giả phải chăng là … Vương thượng.
- Vương tướng gì! Tôi là anh lái buôn lánh nạn đây thôi.
Bỗng người kia phục xuống đất:
- Anh thần đâu? Quân sĩ đâu mà để Vương thượng một mình một ngựa thế này?
- Người là ai mà ăn nói như điên rồ thế? Tránh ra cho tôi chạy kẻo quân Tây Sơn sắp đến sau kia.
- Tâu Vương thượng: tiểu dân là Nguyễn Noãn con tiến sĩ Nguyễn Thưởng ở Vân Điềm, em ruột Sơn Tây Sứ Hữu Tham Nghị Nguyễn Đường. Anh tiểu dân mấy hôm trước đây ở Sơn Tây được lệnh của Vương thượng triệu về triều. Trước khi về triều có dặn tiểu dân phải mộ tráng sĩ phòng khi trong nước có biến. Hiện tiểu dân đã mộ được hơn ngàn dũng sĩ để ở bên kia sông. Cúi xin Vương thượng kíp sang đò.
Nghe thấy nói là con Nguyễn Thưởng, là em Nguyễn Đường, Trịnh Vương vững dạ, không giấu giếm gì nữa.
- Ta cùng anh ngươi với mấy chục quân từ cửa An Hoa chạy. Đến làng sau kia bị dân làng ra hành hung thành ra vua tôi tán loạn, ta một mình một ngựa đi liều đến đây. Đây là đâu?
Trình đây là địa phận làng Nhật Chiêu. Sang qua sông là làng Lực Canh. Xin Vương thượng kíp sang sông, về làng tiểu dân sẽ liệu việc sau.

IV

 

Quán làng hạ Lôi
Trịnh Vương phân vân không biết nên tin hay nên ngờ. Thật là em Nguyễn Đường chăng, mà bụng dạ cũng như Nguyễn Đường chăng? Hay là một đứa phản thần nào biết rõ tung tích gia thế Nguyễn Đường mạo nhận để lừa vua?
Sau cùng đành liều mà bảo Nguyễn Noãn gọi đò. Gọi mãi mới được một chiếc đò nhơ nhỡ đủ hai người một ngựa xuống thuyền.
Ngồi mạn thuyền, Trịnh Vương băn khoăn lo lắng. Muốn nhìn xem mặt tên Noãn có giống Nguyễn Đường không thì một ngọn đèn dầu không đủ ánh sáng. Nếu thật là em Nguyễn Đường thì không ngại gì, vì nhà hắn là một vọng tộc vùng Giang Bắc, bẩy đời nay đã sản ra bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ. Nhưng nếu không phải… Thôi nhưng lúc ấy cũng không phải lúc phân vân được nữa: đành cũng đến đâu hay đó mà thôi. Ngửa mặt trông trời, trời sao nhấp nhánh. Trịnh Vương sực nhớ lại năm xưa Tả tư Giảng Ngô Thì Nhậm giảng ông nghe bộ sách "Quản Khuy", rồi vương cố tìm xem các sao Đế Tọa ở nơi nào. Gió nồm nam vẫn thổi mạnh, đưa những tiếng ồn ào nơi kinh sư đến. Bây giờ, giặc Tây Sơn đương làm cỏ thành Thăng Long đây.
Mới cách đây vài giờ ta còn là một vị vương gia hách dịch mà nay một mình ngồi giữa dòng sông, tấm thân gửi thác trong tay một người lạ mặt chưa rõ ruột gan. Sóng động mạn thuyền, nước kêu bì bạch như gợi tấm lòng buồn bã chán chường.
Còn mẹ ta? vợ ta? con ta? Bây giờ ở đâu, còn hay mất? Mẹ ta bị tiên vương ghét bỏ sinh được có mình ta.
Trong hai mươi năm trời, xiết bao cực nhục khổ sở, mới được thư thái trong dạ chừng vài bốn năm nay. Bây giờ mẹ một nơi, con một nơi, an nguy mất còn đôi nơi bóng chim tăm cá, chỉ thương cho vợ ta, tưởng …..(K.D. xóa)… sướng nhất trần gian, có ngờ đâu ngày nay? Con ta mới hơn tuổi tôi, nào đã tội tình gì? Làm đứa nông phu khi loạn li còn giữ được cha mẹ vợ con, làm thân người vương giả đã lỡ bước thì không bằng một đứa nông phu.
Chúa cúi đầu thở dài, rồi lại ngửng lên trông trời, bất giác buột miệng đọc ứng khẩu thành hai câu thơ:
Ý chu ngưỡng diện quan kiền tượng
Ảm ảm hàn tinh sổ điểm cô[56]
Rồi sực nhớ đến bài thơ năm nọ:
- Ô hay! Ta ngẫu nhiên đọc thành hai câu thơ cùng vần với bài thơ năm nọ:
Dạ bán kinh hoàng đắc báo thư
Khai giam phách án nhất kinh hô
Chư quân đạo thử ngô hà vọng
Thiên đạo như tư, cổ sở vô
………..
Ý chu ngưỡng diện quan kiền tượng
Ảm ảm hàn tinh sổ điểm cô !
- Ồ hay! Giá ta nghĩ được hai câu ngũ lục nữa thì thành bài thơ. Thân thế ta cũng có lẽ đầu Ngô mình Sở như bài thơ này.
Còn đương nghĩ vẩn vơ thì thuyền tới bến. Nguyễn Noãn dắt ngựa lên trước và mời chúa lên bờ. Trịnh vương bước chân ở thuyền lên mà có cảm giác như bước chân vào cõi đời khác.
- Nhà ngươi nói có quân để bên sông. Bây giờ đưa đến chỗ quân đóng.
- Tâu chúa thượng tiểu dân nói thế cho chúa thượng yên tâm sang sông đó thôi. Dũng sĩ hiện ở làng tiểu dân, cách đây không xa mấy.
Trịnh vương im lặng biết rằng mình bị lừa. Từ đấy đến làng Nguyễn Noãn đường sá không biết ra sao mà thủ túc không một ai theo cả. Ngài bảo Nguyễn Noãn:
- Ngươi có quen ai ở làng đây hãy đưa ta vào nghỉ tạm rồi mai sớm hãy đi.
- Từ đây về làng tiểu dân độ đến trống ba thì tới, xin chúa thượng cố đi. Không nên nghỉ đỗ lại đâu sợ lộ tung tích.
- Ta đêm qua không ngủ. Ngày hôm nay lại cầm quân từ sáng đến chiều. Bây giờ nhọc lắm. Nếu trời còn để ta sống thì không sợ gì chuyện vào ngủ một nhà lạ. Bằng số mệnh ta đã hết thì đi đâu tránh cũng không khỏi.
- Vâng, thế để xin đi qua một cánh đồng rồi thì tìm cái quán nào đó mà ngủ có lẽ tiện hơn. Chúa thượng rằn lòng vậy.
Chẳng rằn lòng cũng chẳng được, chúa thượng đành lên ngựa đi. Noãn đi trước dắt ngựa. Qua cánh đồng làng Xuân Canh, Noãn đưa chúa vào một cái quán ngói trống không giữa đồng. Cái quán ấy dân làng làm ra để nông gia nghỉ chân mùa gặt. Mệt quá, chúa nằm ngủ thiếp đi. Chừng đầu giờ Dần chúa tỉnh ngủ dậy, nhìn lên trời thấy có trăng.
- Hôm nay 26. Trăng lên thì gần sáng.
Chúa đánh thức Noãn dậy rồi hai người lại cùng đi. Trời tảng sáng, chúa nhìn kỹ mặt tên Noãn thấy giống Nguyễn Đường nhưng thần thái thì khác. Cùng một khuôn mặt ấy, sao ở Nguyễn Đường thì khí sắc sáng sủa mà ở Nguyễn Noãn thì khí sắc ấy tối tăm hung ác. Chúa nghĩ bụng: anh em chưa chắc bụng dạ đã như nhau. Mà nếu đã trái tính nhau thì trái hẳn như trắng với đen. Bụng hơi chờn chợn, chúa hỏi Nguyễn Noãn:
- Đây là đâu?
- Tâu làng trước mặt đây là làng Hạ Lôi, dãy tre xanh đằng kia là làng tiểu dân.
- Đây là vùng văn học. Vậy gần đây có ông tiến sĩ nào không?
- Vùng này, trừ làng tiểu dân ra thì cũng ít có bực đại khoa. Tiểu dân chỉ nghe nói rằng quan Thiêm Sai Tri lại phiên Lý Trần Quán trước cũng vâng mệnh đi chiêu binh. Lý Trần công trước kia dạy học ở Hạ Lôi, không biết nay có đấy không.
- Ngươi đi tìm hộ ta xem. Nếu Quán ở đấy, ngươi bảo ông ta ra đây giúp ta.
Noãn xin vâng, dẫn chúa Trịnh vào trong một cái quán nhỏ gần đấy, sai nhà hàng phục dịch đoạn ra đi.
Một lát sau, Lý Trần Quán, Nguyễn Noãn cùng hai đứa nữa đều đến chỗ chúa nghỉ chân.
Quán mới trông thấy Chúa, vái thật dài rồi đứng nép một bên chỉ một người trong hai người lạ mặt:
- Đây là đứa học trò của tôi tên là Nguyễn Trang, hiện làm Tuần huyện.
Ông lại nói to cho nhà hàng cùng những người đứng gần đấy nghe rõ:
- Đây là quan Hành Tham tụng Bùi Huy Bích đi lánh nạn.
Tuy rằng giấu giếm nhưng cử chỉ ngôn ngữ vẫn lộ. Một cái ông cung kính khúm núm quá, người tinh ý cũng đoán ra. Một ông Hàn lâm Học sĩ, Thiêm sai Tri lại phiên đối với một ông Hành Tham tụng, chi mà khúm núm quá thế? Cái khúm núm ấy lại dễ lộ nữa là ông Lý Trần Quán vẫn có tiếng là người khẳng khái, không thèm quị lụy một ai. Chúa thấy ông cung kính một cách lộ quá, cũng phải làm ra bộ khúm núm lễ nhượng cho đỡ lộ. Sau cùng Chúa gọi riêng ông ra bảo thầm:
- Khanh lộ liễu quá. Cái lễ vua tôi phải bỏ đi trong những lúc này.
Quán nghe đoạn gật đầu trỏ tên Trang:
- Tên này là học trò thân tín của tôi, quan lớn cứ tùy tiện mà khu xử.
Ông lại bảo tên Trang:
- Tuần Trang, anh đưa quan lớn qua địa đầu rồi ta đến sau.
Trang vâng lời, lấy dăm chục tên dân binh đưa chúa đi. Y đưa chúa đến một cái quán hoang giữa đồng rồi hỏi rằng:
- Ông là Đoan Nam Vương phải không? Ông nên nói thật đi, không có thì biến to bây giờ, khi đó đừng trách.
Chúa nói:
- Anh đừng làm thế. Ta là Hành Tham tụng Bùi Huy Bích.
- Thôi đi! Ông đừng lừa dối tôi nữa! Lúc nãy ông cùng Lý Trần Quán vua tôi khóc lóc gì với nhau? Ông năm nay mới ngoài hai mươi tuổi thôi, làm chi mà đã đỗ được tiến sĩ, làm quan đến Hành Tham tụng. Ông đẻ ra biết chữ à? Năm lên năm đỗ tiến sĩ à? Sao lên tới Hành Tham tụng mà còn trẻ măng thế kia? Thôi! Từ cổ đến giờ, đế vương phế hưng cũng là chuyện thường. Thôi, ông đi đâu bây giờ. Về quách nhà tôi cho xong.
Nói đoạn y khoanh tay nhìn Trịnh Vương mà cười một cách ngạo mạn. Trịnh Vương biết rằng không thể giấu được nữa liền nói:
- Vương giả số mệnh ở trời. Chính ta là Đại nguyên súy Đoan Nam Vương! Túng xử ta có chết ở tay người trong nước, cũng là mệnh trời định vậy. Chúng bay muốn làm gì thì làm!
Trang lại cười, cái cười của thằng kẻ cướp chịt được chủ nhà, cái cười của đứa tiểu nhân được lúc đè đầu người quân tử, cái cười của đứa đầy tớ hại được chủ nhà, cái cười của nó làm đau ruột Trịnh Vương hơn là mũi giao đâm cổ.
- Thế thì được. Xin rước chúa thượng về trụ tất ở nhà hạ thần.
Y nói câu ấy lại bắt giọng phường tuồng nghe nó đểu giả chó má vô cùng. Có điều lạ: ở trên sân khấu rạp tuồng thì câu nói giọng tuồng là câu tử tế, mà câu nói giọng thường là giọng đểu giả. Ở ngoài thì trái lại.
……………………
……………………[57]
Đem nhân luân ra làm trò rồi, y bắt ép chúa về nhà y ở làng Hạ Lôi.
Chúa Trịnh từ đó, im lặng không nói năng gì nữa. Về tới nhà, y đem giam chúa vào trong buồng. Khi hắn ép vào, chúa nói:
- Một mình ta ở trong tay chúng bay, ta còn chạy đi đâu được nữa. Ta cho bay bán ta cho giặc mà lấy ấn phong hầu. Nhưng bay phải để ta ngồi sập giữa nhà, đường hoàng tử tế. Bay không coi ta là vua bay nữa thì ta cũng là món hàng quý của bay.
Trang nói, vẫn giọng tuồng:
- Dạ, dạ, dám bẩm vương thượng, thần phụng mạng, phụng mạng.
Ngoài cổng nhà tên Trang có tiếng ồn ồn, một đứa người nhà vào nói với tên Trang:
- Có quan Học sĩ Lý Trần Quán đòi vào.
Trang nói:
- Ông ta vào can thiệp đây. Mở cửa cho lão ấy vào.
Lý Trần Quán vào đến trước thềm, sụp xuống đất lạy, khóc mà nói:
- Làm lầm lỡ vương thượng đến đường này thật là tội của thần.
Chúa đứng đỡ Lý Trần Quán dậy:
- Người ta, ai có bụng dạ người ấy, khanh có dự gì đến việc này!
Trần Quán khóc lạy tên Trang:
- Vương thượng là chủ chung của cả nước, mà tôi thì là thầy học anh. Quân sư là nghĩa lớn, anh nỡ lòng nào thế!
Trang nói:
- Nếu quan lớn nói trước rằng đây là vương thượng thì bố tôi cũng không dám chứa. Vì quan lớn nói dối tôi nên chót gặp chúa mất rồi. Tôi bây giờ như người chứa đồ quốc cấm, thế tất phải khai báo trình. Nếu cứ để chúa ở nhà tôi, một mai quan Tây Sơn biết hỏi đến thì khi đó quan lớn có thể đến đó giải oan gỡ tội cho tôi không? Thôi thôi, tôi cũng cam bất trung bất nghĩa. Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu vua chưa bằng yêu thân. Thôi thôi, quan lớn đừng làm lầm lỡ tôi nữa!
Nói đoạn, y quát người nhà lôi chúa đi. Lý Trần Quán lăn xả vào bị chúng gạt ra. Ông phục xuống đất khóc gào:
- Trời đất ơi! Thằng Lý Trần Quán giết vua nó đây! Trời biết chăng trời? Chúa quay lại nói:
- Lòng trung thành của khanh, cô đã lượng biết cho rồi. Khanh đừng tự oán mình nữa!
Chúa chạy ra nắm tay ông:
- Thôi, cô đến cơ sự đường này chẳng qua là mệnh giời bắt thế. Cô còn may mà ở giữa lúc bị nạn, giữa khi bị lọt vào tay hùm beo, còn được trông thấy một người trung thần.
Lý Trần Quán lúc bấy giờ mới trông thấy tên Noãn, liền bảo:
- Anh là con nhà danh gia vọng tộc thi thư lễ nhạc mà cũng theo bọn càn này à? Tội anh to bằng mấy tội tên Trang.
- Quan lớn lầm to! Tôi đi với vương thượng từ Thăng Long sang đây có làm sao đâu? Quan lớn đưa chúa vào tay giặc đó chứ!
Quán nghe câu ấy phát uất người lên, nức nở khóc gào:
- Vâng, tôi giết vua, rồi tôi khắc biết trị tội tôi.
Quay lại tên Trang:
- Hay là anh hãy tạm lưu vương thượng ở đây vài ngày nữa….
- Để làm gì? Trang gắt, để làm gì? Để ông hô hào bọn nghĩa sĩ nhà ông đến cứu chúa phải không? Để quan Tây Sơn họ biết, họ lột da tôi ra, phải không?
Thế rồi, Trang bắt chúa giải đi ngay.
Đến một cái quán nước, chúa đòi nghỉ uống nước. Trang để cho được tự do. Chúa liếc nhìn thấy nhà hàng có con dao để trên trõng, vội vơ lấy thẳng tay đâm vào bụng một nhát. Toan đâm nhát nữa thì Trang đến cướp lấy dao rồi cho vực chúa lên võng. Đi đường Trịnh Vương lấy tay chọc vào chỗ vết giao, thò tay móc ruột. Trang thấy lục đục trong võng và vết máu chảy xuống đường, mở mảnh võng ra rồi nhìn quát thủ hạ:
- Chúng bay trói tay ông ấy lại! Ta phải đem nộp sống cho quan Tây Sơn. Đừng để ông ấy tự tử.
Từ đó Trịnh Vương mệt quá nằm lả đi.
Một lúc Trịnh Vương thấy trong lòng rạo rực, vừa nóng vừa khát.
Chúng mày cho ta ít nước lã nguội.
Trang lấy nước rồi một tay đỡ chúa ngồi dậy, một tay cầm bát nước để chúa uống. Chúa uống luôn hai bát liền rồi lại đòi uống nữa. Uống xong bát thứ ba, chúa từ từ nhắm mắt rồi nằm vật xuống.
Lúc ấy vào khoảng giờ Ngọ ngày hai mươi bẩy tháng sáu, năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 47, lịch tây vào năm 1786. Năm ấy Đoan Nam Vương hai mươi bốn tuổi.
Trang dìu thi thể Trịnh Vương về Thăng Long. Long Nhương tướng quân nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ vỗ vào thi thể Trịnh Vương:
- Đáng tiếc! Người đẹp trai như thế này! Thật đáng tiếc. Nếu sớm biết hàng ta thì cũng được giàu sang! Sao mà thân làm tội đời như thế này!
Đoạn cho khâm liệm đúng lễ đối với một bực vương giả, sai lấy cỗ xe Tiểu long Bình đính đưa đến an táng ở trại Phương Liệt, gần mộ Cung Quốc công Trịnh Cán. Lại phong cho tuần Trang là Tráng Nghĩa hầu, hẹn sẽ cho quyền lĩnh chức Sơn Tây trấn thủ.
 
*
*   *
Làng Hạ Lôi có một nhà giầu họ Trần, tính khí hào phóng không thích danh lợi. Ông đi thi hai khoa không đỗ, ông bỏ ngay nghề đi thi cử về nhà làm ruộng đọc sách. Ông rất ưa những ông quan cao khiết thanh liêm và những học trò nghèo. Ông nuôi Lý Trần Quán ở nhà ông từ ngày hàn vi chưa đỗ. Cả tòa nhà bẩy gian, ông để riêng cho Lý Trần Quán dạy học. Sau Lý Trần Quán đỗ tiến sĩ, làm quan, nhưng vì mến chủ cũ ông vẫn coi đó là nhà.
Sau việc tên Trang bắt chúa Trịnh, về nhà, Lý Trần Quán thuật cho Trần chủ nhân nghe đầu đuôi câu chuyện rồi nói rằng:
- Làm bầy tôi mà làm lầm lỡ vua, tội ấy đáng chết. Tôi không chết, không sao bộc bạch được tâm địa này cùng trời đất. Ông sắm hộ tôi một cái áo quan, mười súc vải trắng để tôi tự xử lấy tội của tôi.
- Quan lớn tự trách khí nghiệt quá. Đó là tên Trang bạn nghịch, có dự gì đến quan lớn. Chúa thượng cũng biết cho quan lớn rồi, dân gian vùng này ai cũng biết quan lớn là người trung nghĩa rồi, việc gì phải khổ tiết như thế?
Ông buồn rầu đáp:
- Tôi nhất định chết, ông can cũng không được. Ông không giúp tôi, tôi cũng có cách. Nếu ông yêu quý tôi thì nên nghe tôi.
Trần chủ nhân biết là có can nữa cũng không được, bèn chiều lòng mua cho đủ thứ. Lý Trần Quán sai đào ở vườn sau nhà một cái huyệt, đặt áo quan vào đó. Đoạn đội mũ, mặc áo tiến sĩ, quay mặt về hướng nam lạy tám lạy:
- Tôi bất trung bất nghĩa là Lý Trần Quán xin theo Vương thượng.
Lạy xong, ông cởi mũ áo, chít khăn trắng, mặc áo trắng, xuống huyệt nằm trong áo quan rồi bảo Trần chủ nhân:
- Ông đậy nắp ván thiên cho tôi.
Chủ nhân đậy áo quan. Đậy vừa xong, tiếng trong áo quan lại nói ra:
- Còn thiếu một lời, tôi xin nói nốt.
Nắp quan tài lại mở ra:
Tam niên chi hiếu dĩ hoàn
Thập phần chi trung vị tận[58]
……..
…….
Ông nhớ lấy câu ấy. Câu ấy bây giờ tôi làm để tự khóc tôi. Sau này ông bảo con tôi dán lên nhà thờ thờ tôi. Đa tạ chủ nhân. Tôi cùng chủ nhân từ nay vĩnh biệt.
Trần chủ nhân cùng năm sáu người học trò phục xuống đất vừa khóc vừa lạy. Đoạn quan đậy nắp, đất phủ lên trên.
Hôm ấy là ngày 29 tháng sáu, hai ngày sau ngày chúa Đoan Nam Vương tự sát. Ở làng Cổ Linh, Phạm Quý Thích nghe tiếp hai tin liền, có câu thơ rằng:
Đỗng khốc thiên nan vấn,
Thê lương sự dĩ phi,
Sinh tàm Lý học sĩ,
Nhất tử độc như qui[59]
 
*
*   *
Mấy năm sau dưới một mái nhà tranh ở thôn Nội, làng Du Lâm, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, một vị quan cũ nhà Lê đương nằm trên giường bệnh gần đến lúc tắt nghỉ. Quanh giường ông nằm, có người chủ nhân đón ông dạy học và hai người con nhỏ của ông. Chủ nhân biết ông gần nguy, hỏi rằng:
- Quan lớn bệnh nặng, các công tử còn nhỏ cả. Vậy quan lớn có dặn bảo gì không?
Ông thở dài:
- Đáng lý thì ông cũng phải sắm cho tôi một cỗ áo quan từ năm xưa kia rồi. Đáng lý thì tôi cũng phải chết như quan Thiêm sai Lý Trần Quán rồi. Tôi lại đáng chết hơn. Tôi làm quan ở Sơn Tây mà người hạt hạ tôi bắt chúa. Tôi đưa đường chúa đi, mà tôi đánh lạc chúa vào tay em ruột tôi. Từ ngày ấy tôi không mặt mũi nào trông thấy người đời nữa, không mặt mũi nào trông thấy họ hàng làng nước nữa. Tôi sở dĩ chịu "sinh tàm Lý Học sĩ" là vì tôi chưa có con. Cụ thượng đẻ ra tôi chỉ còn tôi và thằng ba Noãn, em hai tôi mất từ sớm rồi. Thằng ba Noãn thì không trông mong gì. Bởi vậy tôi chịu đủ đường khổ nhục sống đến ngày nay. Sau đây con tôi lớn thì ông dặn chúng nó đừng thi cử gì nữa. Nhà tôi bảy đời chịu ơn vua lộc chúa, con cháu đừng vác mặt đi thờ họ khác.
 
*
* *
Năm tháng sau khi chúa Đoan Nam Vương tuẫn quốc, sau khi Lý Trần Quán tử tiết.
Tuần Trang đi đến đâu cũng không ai dung. Cái chết của Đoan Nam Vương và Lý Trần Quán đuổi y đến bước cùng.
Y cùng Nguyễn Noãn và hơn chục thủ hạ chạy trốn. Đến làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm gặp Trướng Trung hầu Đỗ Thế Dận. Trướng Trung hầu từ khi thất thủ Sơn Nam xong về nhà. Được lệnh mộ quân lên cứu kinh sư. Sau quân cứu viện chưa kịp đến kinh thì thành thất thủ, Trịnh vương bị hại. Ông nằm ở quê. Hôm ấy ngẫu nhiên ông bắt gặp Tuần Trang ở quán nước đầu làng. Ông liền sai tuần làng cùng người nhà đánh bắt. Ông đem Tuần Trang, Ba Noãn đến mộ Đoan Nam vương chém đầu tế chúa. Ông lăn lộn gào khóc. Thiên hạ ai cũng lấy việc ông làm khoái trí.
Hôm ấy là ngày 30 tháng chạp năm Bính Ngọ, niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất (1786).
 Viết ở Vinh, Avril Mai, 1938



[1].  Phan Bội Châu.
[2].   Bà Trưng.
[3].   Năm Cảnh Hưng 41, Canh Tí (1780).
[4].  Chồng của vú em, tiếng Bắc gọi là bõ.
[5].  Trẻ con đại tiểu tiện gọi là bĩnh.
[6].  Thiện phu: người đầu bếp.
[7].  Chức giữ việc viết lách sách vở. Hà Như Sơn là điển thư riêng cho vương tử Khải.
[8].  Lúc ấy tên Khải còn là Tông.
[9].  Nghĩa như bất pháp.
[10]. Tức Huy quận công.
[11].         Sau vì kiêng hai tên vua Tự Đức (Phúc Thì, Hồng Nhậm) nên gọi tránh là Ngô Thời Nhiệm.
[12].         Tức là phủ Chúa Trịnh.
[13].         Tức là chúa Trịnh Sâm.
[14].         Tức là Đặng Thị Huệ, Bà Chúa Chè.
[15]. Sở Mục Vương và Tùy Dương Quảng đều giết bố để cướp ngôi.
[16].         Chữ Tả truyện, dịch tạm là: Áo cừu lung tung, một nhà ba ông, theo ai cho xong?
[17].         Chỉ Hoàng Đình Bảo vì y là Phò mã. Tục ngữ có câu: Tốt áo như ông Phò mã.
[18].         Chỉ Đặng Thị Huệ, Tuyên phi của Tĩnh Vương, mẹ đẻ ra vương tử Cán.
[19]. Sau đổi là Nguyễn Khản. Tức là anh ruột tác giả quyển Kiều.
[20].         Thế tử Thương Thần nước Sở giết cha mà cướp ngôi.
[21].         Đương làm quan mà cha mẹ chết, thôi quan về chịu tang, gọi là đinh gian.
[22].         Tham tụng bấy giờ quyền như Tể tướng.
[23]. Trỏ Dương Trọng Tế.
[24]. Thuật để mả, đặt hướng nhà. Thường gọi lầm là địa lý.
[25]. Không là vua, không là bá mà quyền nghiêng thiên hạ.
     Hơn hai trăm năm rồi thì vạ xẩy ra ngay bên cạnh nách.
[26]. Đem ra tra tấn ở giữa triều đình.
[27].         Khi đó vương tử Tông đã bị truất xuống làm quí tử và đổi tên là Khải.
[28].         Tạ Danh Thùy dùng chữ Tả chuyện: Vô hữu phế giả, quân hà dĩ hưng?". Chữ sách vẫn có ảnh hưởng to làm cho lời nói có uy thanh hơn.
[29].         Thứ tự vợ chúa trong cung: Chính phi hoặc nguyên phi, tân, tiệp dư, tu dung.
[30].         Trịnh Lệ là con Trịnh Doanh, em Trịnh Sâm, chú Trịnh Khải.
[31].         Con gái Trịnh Doanh, vợ Hoàng Đình Bảo.
[32].         Bà tân chúa Minh Vương, họ Dương.
[33]. Tỉnh quê vua, quê chúa gọi là Thang mộc ấp. Lính Tam phủ phần nhiều người Thanh Hóa.
[34]. Equinoxe d’automne: Hôm ngày đêm đều nhau.
[35]. Bạn cùng đọc sách.
[36].         Lòng giận của chúng nhân không thể xúc phạm được.
[37].         Năm 1674 lính Tam phủ giết Tham tụng Nguyễn Quốc Trinh, và phá nhà Phạm Công Trứ; năm 1741 họ lại phá nhà và chực giết Tham tụng Nguyễn Quí Cảnh. Lính Tam phủ nói câu ấy để dọa Nguyễn Trọng Viêm.
[38].         Trịnh Doanh.
[39].         Trịnh Giang, anh ruột Doanh.
[40]. Bài thơ ấy, xin tạm dịch ra quốc âm:
Khuya khoắt nghe tin đã sởn lòng.
Mở thư đạp án xiết kinh hoàng!
Các ông đến thế, mong gì nữa!
Thiên đạo ngày nay có nữa không?
[41].         Sắc viết để trống tên để người được hưởng tha hồ muốn điền tên ai thì điền.
[42].         Kiểm duyệt xóa 13 dòng.
[43].         Năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 47, lịch tây 1786.
[44].         Chúa Trịnh đối với những vị lão thần nhiều khi gọi là tiên sinh (đối với quan văn) hoặc công (đối với quan võ).
[45].         Ấn riêng của chúa Trịnh, việc quan trọng lắm mới dùng đến.
[46].         Nước nhà còn mất ở một trận này, ông gắng sức nhé!
[47].         Hoạn quan hầu gần nhà chúa.
[48].         Tức Trịnh Tùng.
[49].         Tức là Tiến sĩ Nguyễn Thưởng, người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc.
[50].         Mưu việc lanh lẹn, lo việc chu đáo, thật là một vị lão thành.
[51]. Xướng tên các ông tiến sĩ.
[52].         Bùi Huy Bích làm Hành Tham tụng.
[53]. Thị là coi, sư là quân.
[54]. Kiểm duyệt xóa.
[55].         Kiểm duyệt xóa 4 dòng.
[56].           Dịch: Tựa thuyền ngửa mặt trông trời rộng,
               Lạnh lẽo sao mờ ba bốn ngôi.
[57].         Kiểm duyệt bỏ 11 dòng.
[58]. Ba năm đạo hiếu đà đầy đủ,
     Một nghĩa vua tôi chửa hết nào.
[59]. Dịch:
Gào khóc trời khôn hỏi,
Buồn thảm có còn chi?
Sống thẹn cùng Học sĩ,
Một chết chỉ như về.

Các bài mới đăng:
Các bài viết khác:

Cập nhật ngày Thứ năm, 27 Tháng 10 2011 17:10

Tổng mục lục

 

 

Mục lục số 174

 

 

Mục lục số 172 - 173