Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Văn hóa và đời sống

 

Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tại Băngkok, Thái Lan, 01/08/2019. Nguồn ảnh US Embassy Hanoi

 

   Lịch sử từng chỉ rõ, nhân nhượng quá nhiều sẽ kích thích những hành động gây hấn bạo liệt hơn bởi những kẻ hung hăng bá quyền, vì họ biết rằng sẽ không có giới hạn nào cho các hành động bành trướng. Vừa qua, nếu không có sự phản đối mạnh mẽ của Việt Nam cũng như sự phê phán kịp thời từ phía cộng đồng quốc tế (Mỹ, Nhật, Ấn, Úc và ASEAN) đối với hành động xâm lược của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, vụ việc có thể diễn ra theo hướng xấu hơn.

     Theo phân tích của TS. Bùi Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, để đánh giá mục tiêu thực sự của Bắc Kinh ở Biển Đông thì không thể nhìn vào một hiện tượng. Tức là, không chỉ nhìn vào mỗi sự kiện Trung Quốc đưa tàu xâm lấn Bãi Tư Chính, mà phải xâu chuỗi tất cả các hành động của Trung Quốc trong suốt cả khoảng thời gian dài. Từ cuối tháng 5/2019, Trung Quốc đã ngăn cản hoạt động khai thác dầu khí trên thềm lục địa của Malaysia. Sau đó, chiếc tàu Haijing 35111 của lực lượng hải cảnh Trung Quốc quay về khu vực đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã tạo ra một cách phi pháp ở Biển Đông. Cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2019, Trung Quốc quay lại can thiệp vào hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam. Trước đó, năm 2017, Trung Quốc cũng đã có hành động cưỡng ép công ty Repsol rời khỏi mỏ Cá Rồng Đỏ, đến năm 2018, lại có những hành động can thiệp đối với mỏ Cá Voi Xanh. Như vậy, mục tiêu của Trung Quốc ở Biển Đông là hoàn toàn bất biến: liên tục can thiệp, gây sức ép lên các quốc gia có lợi ích hợp pháp trên Biển Đông nhằm hiện thực hóa âm mưu độc chiếm Biển Đông.

     Việt Nam kêu gọi kiềm chế

     Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh hôm 01/8 kêu gọi Trung Quốc kiềm chế các hành động ở Biển Đông để duy trì hòa bình, ổn định và kiểm soát xung đột. Truyền thông quốc tế loan tin, ông Phạm Bình Minh phát biểu như vậy trong cuộc gặp Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị bên lề Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 diễn ra ở Bangkok, Thái Lan. Từ giữa tháng 6 đến nay, các tàu cảnh sát biển của Việt Nam đã phải đối đầu với hàng chục tàu hải cảnh, tàu dân binh và tàu Hải Dương-8 mà Trung Quốc điều xuống khu vực Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định lập trường nguyên tắc của Việt Nam, nêu rõ hai bên cần nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết thỏa đáng tranh chấp tại Biển Đông trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982). Cùng ngày, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh còn có các tiếp xúc song phương với các Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, Canada Chrystia Freeland, Campuchia Prak Sokhonn, New Zealand Winston Peters và Anh quốc Dominic Raab.

     Cũng hôm 01/8, phát biểu khai mạc tại Hội nghị Ngoại trưởng Hoa Kỳ - ASEAN, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompep phát biểu: “Chúng tôi không bao giờ yêu cầu bất kỳ quốc gia nào ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương phải lựa chọn theo nước nào… Sự tham dự của chúng tôi trong khu vực này chưa bao giờ và sẽ không bao giờ nhằm mục đích thắng - thua. Những mối quan tâm của chúng tôi đơn giản là hoàn toàn thống nhất với những mối quan tâm của các bạn và đều vì lợi ích chung của các bên”. Trong diễn biến liên quan đến an ninh khu vực, hôm phát biểu khai mạc tại Hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ nguồn Mekong, ông Pompeo cũng lên tiếng bày tỏ quan ngại việc Trung Quốc chặn thượng nguồn để xây đập, theo trang tin của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

     Trước đó, hôm 31/7/2019, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã lên tiếng chỉ đích danh Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Lần đầu tiên một lãnh đạo cấp cao của Việt Nam công khai lên án Trung Quốc về những căng thẳng giữa hai nước ở Biển Đông kể từ khi Trung Quốc điều tàu vào vùng biển Việt Nam từ hồi giữa tháng 6. Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 ở Bangkok, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh nhấn mạnh tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp do hành động đơn phương quân sự hóa, gia tăng tập trận quân sự, đặc biệt là tàu khảo sát HD-8 cùng các tàu hải cảnh Trung Quốc và dân binh đã xâm phạm vùng biển Việt Nam. Ông Phạm Bình Minh gọi đây là những hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước Luật biển 1982, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, vi phạm tuyên bố chung về ứng xử tại Biển Đông (DOC), đi ngược lại cam kết duy trì môi trường thuận lợi cho đàm phán một bộ quy tắc về ứng xử (COC).

     Cũng trong ngày 31/7, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã ra tuyên bố chung, nêu quan ngại về tình hình Biển Đông với những sự việc nghiêm trọng. Tuy nhiên, tuyên bố chung của ASEAN đã tránh nhắc đến tên Trung Quốc. Phát biểu tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc tại Bangkok vào cùng ngày, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị lại nói rằng “tình hình Biển Đông vẫn tiến triển”. Ông Vương Nghị cũng nhận định dù có lúc sẽ có những bất hòa, nhưng nhìn chung “ASEAN và Trung Quốc vẫn có đồng thuận cao”. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lặp lại luận điệu cũ khi đưa ra cảnh báo “các cường quốc bên ngoài đừng gây mất lòng tin và khuấy động những tranh chấp ở vùng Biển Đông” (Ý muốn ám chỉ Hoa Kỳ).

     Quốc tế ủng hộ Việt Nam

     Ngày 01/8/2019, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ Raveesh Kumar cho biết, các hoạt động khai thác dầu khí của Ấn Độ ngoài khơi Việt Nam vẫn tiếp tục và không bị ảnh hưởng bởi những hoạt động của tàu Trung Quốc. Từ khoảng giữa tháng 6 và đầu tháng 7, Trung Quốc đã gửi hàng chục tàu hải cảnh, dân binh và tàu Hải Dương-8 đến khu vực gần Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tàu hải cảnh của Trung Quốc và Hải Dương 8 xuất hiện ở khu vực phía tây bắc Bãi Tư Chính, gần đảo Trường Sa Lớn, nơi có một loạt các lô dầu khí khác của Việt Nam bao gồm lô 127 và 128 là những lô mà công ty ONGC của Ấn Độ đã ký hợp đồng khai thác. Nói về những căng thẳng gần đây, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho biết New Dehli có những lợi ích chính đáng và hợp pháp đối với hòa bình, ổn định và việc tiếp cận với các tuyến đường biển lớn trong khu vực. Theo OutlookIndia, ông Raveesh Kumar cũng nhấn mạnh rằng Ấn Độ có lập trường nhất quán và rõ ràng về Biển Đông. Đây là vùng nước có tầm quan trọng về thương mại và kinh tế đối với Ấn Độ, chiếm gần 55% giao thương của Ấn Độ. Ông Raveesh Kumar khẳng định Ấn Độ tiếp tục ủng hộ tự do hàng hải và tự do tiếp cận các nguồn tài nguyên theo các quy định của luật pháp quốc tế. Trước đó, truyền thông Ấn Độ cho biết Việt Nam đã thông báo về tình hình căng thẳng ở Biển Đông cho phía Ấn Độ biết. Các nguồn tin ngoại giao cũng cho biết Việt Nam thông báo tình hình cho New Dehli, vì Ấn Độ là quốc gia có tầm quan trọng trong khu vực.

     Ngày 04/8/2019, Hoa Kỳ đã phản đối hành vi của Trung Quốc gây mất ổn định tại Ấn Độ - Thái Bình Dương, tân Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper cho biết như thế trong cuộc họp báo chung với đồng nhiệm Úc tại Sydney. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Mỹ - Trung đang leo thang chiến tranh thương mại. “Chúng tôi tin chắc rằng không một quốc gia nào có thể hoặc nên chiếm lĩnh Ấn Độ - Thái Bình Dương và chúng tôi đang hợp tác cùng với các đồng minh và đối tác để giải quyết các yêu cầu an ninh cấp bách của khu vực này,” ông Esper nói với các phóng viên. Các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông gây lo ngại trong khu vực và Hoa Kỳ đang thúc đẩy quyền tự do hàng hải cũng như tìm kiếm mối quan hệ mạnh mẽ hơn với các quốc gia đang phản đối Bắc Kinh. “Chúng tôi kiên quyết chống lại hành vi hung hăng đáng lo ngại, gây mất ổn định từ Trung Quốc. Họ dùng nợ vay cho các thỏa thuận chủ quyền và thúc đẩy hành vi trộm cắp sở hữu trí tuệ,” ông Esper nói thêm.

     Trước đó, ngày 02/8/2019, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo cũng chỉ trích “hành vi xấu xa kéo dài hàng chục thập kỷ” của Trung Quốc đã cản trở thương mại tự do. Sau tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 19/7 lên án hành động xâm lấn của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền Việt Nam, ngay ngày hôm sau, 20/7/2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lập tức ra tuyên bố dài gồm có 7 điểm, trong đó nhấn mạnh “các hành động khiêu khích lặp đi lặp lại và gây bất ổn” của Trung Quốc nhắm vào các hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam cần phải được chấm dứt. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng khẳng định: “Các hoạt động khiêu khích lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhắm vào các hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí xa bờ của các bên liên quan ở Biển Đông đã đe dọa an ninh năng lượng của khu vực và phá hoại một thị trường năng lượng tự do, rộng mở ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”.

     Nhật Bản cũng phản đối việc Trung Quốc gây căng thẳng ở Biển Đông. Chính phủ Nhật Bản bày tỏ “quan ngại chính đáng và phản đối mạnh mẽ” bất kỳ hành động nào gây gia tăng căng thẳng trên Biển Đông trong một phản hồi bằng văn bản hôm 31/7/2019 của Bộ Ngoại giao Nhật Bản gửi BBC News Tiếng Việt. Ngoại trưởng Nhật Bản theo kế hoạch đã tham dự phiên họp an ninh với ngoại trưởng các nước khối ASEAN cùng đại diện Mỹ, Nga, Trung Quốc và Úc trong ngày 02/8, nhân Hội nghị Ngoại trưởng khối ASEAN lần thứ 52 được tổ chức tại Bangkok. Trả lời câu hỏi của BBC Tiếng Việt về trở ngại liên quan tới hoạt động của giàn khoan Hakuryu-5 tại Lô 06.1, Bộ Ngoại giao Nhật Bản trả lời: “Bộ Ngoại giao Nhật Bản không thể bình luận về hoạt động của từng công ty của Nhật Bản… Tuy nhiên, nhìn chung, Chính phủ Nhật Bản tin rằng vấn đề liên quan đến Biển Đông có liên quan trực tiếp đến hòa bình và ổn định trong khu vực và là mối quan ngại chính đáng của cộng đồng quốc tế bao gồm Nhật Bản… Chính phủ Nhật Bản phản đối mạnh mẽ bất kỳ hành động nào làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Nhật Bản nhất quán ủng hộ việc tuân thủ toàn diện luật pháp biển và muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của những nỗ lực đối với các giải pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế mà không thông qua việc sử dụng vũ lực hay hăm dọa, nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến các vấn đề tại Biển Đông đối với tất cả các nước liên quan”.

     Theo báo Canberra Times hôm 03/8/2019, trong một tuyên bố chung sau cuộc họp tại Thái Lan ngày 01/8, Ngoại trưởng Úc Marise Payne, cùng với các đồng nhiệm Mỹ Mike Pompeo và Nhật Taro Kono, đã bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng trước những thông tin đáng tin cậy” về những hoạt động cản trở các dự án dầu khí trên Biển Đông, ám chỉ việc các tàu của Trung Quốc sách nhiễu hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam tại khu vực Bãi Tư Chính, gần quần đảo Trường Sa. Bản thông báo cũng bày tỏ quan ngại về “những diễn tiến tiêu cực” ở vùng Biển Đông, trong đó có việc triển khai các hệ thống vũ khí hiện đại trên các thực thể đang tranh chấp. Ba ngoại trưởng mạnh mẽ lên án “những hành động đơn phương có thể làm thay đổi nguyên trạng và làm gia tăng căng thẳng, như bồi đắp các đảo, xây các tiền đồn, quân sự hóa các thực thể đang tranh chấp và những hành động khác gây tác hại môi trường biển” ở vùng Biển Đông. Trong bản thông cáo chung, ngoại trưởng ba nước Úc, Mỹ, Nhật cũng bày tỏ quan ngại về thông tin theo đó Campuchia và Trung Quốc đã ký thỏa thuận về việc Bắc Kinh đưa quân lính, vũ khí và tàu chiến đến đóng tại căn cứ hải quân Ream của Campuchia, nằm trên Vịnh Thái Lan./.

Tài liệu tham khảo:

https://vtc.vn/tau-trung-quoc-ngang-nguoc-xam-pham-bai-tu-chinh-viet-nam-khong-the-trong-cho-vao-bat-cu-luc-luong-ben-ngoai-nao-d489828.html

https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/trung-quoc-dang-lam-day-song-bien-dong-552427.html

https://tuoitre.vn/my-tuyen-bo-trung-quoc-khieu-khich-khi-xam-pham-vung-bien-viet-nam-20190720223923291.htm

a

Thứ năm, 15 Tháng 8 2019 09:21
Xem tiếp...

     Trong nhiều khát vọng do Cáchmạng Tháng TámvàQuốc khánh 2/9 mang lại, có thểkhẳng định, các khátvọng“Độclập -Tự do -Hạnh phúc”là chuỗi giátrị lâu bền và nhấtquán, mang lại nguồn cảm hứng lớn lao chocông cuộc giữ nước và dựng nước một khi chúng ta bước vào thời đại mới.

     Độc lập ở đây là “độc lập dân tộc” như là thành quả vĩ đại của cả quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và kinh qua các cuộc chiến đấu lâu dài, với nhiều nỗ lực gian lao từ biết bao thế hệ tiền bối qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

     Ngày nay khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn nữa, Đảng và Nhà nước ta đã sớm chủ động giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc” thông qua công cuộc hội nhập khu vực và hội nhập thế giới, bằng các chủ trương tương hợp với thời đại. Đó là chính sách đa phương hóavà đa dạng hóacác quan hệ đối ngoại.

     Độc lập trong thế tương thuộc lẫn nhau ấy đang tạo nên những hình thái mới để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

     Giải quyết cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Bãi Tư Chính vừa qua là một điển hình của chủ trương sáng suốt nói trên. Ngoài các nỗ lực chủ quan kiên quyết và khôn khéo của bản thân, nhờ vào tiếng nói đồng cảm và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, sau hơn một tháng trời xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của ta ở Bãi Tư Chính, cuối cùng Trung Quốc đã buộc phải rút tàu thăm dò Hải Dương-8 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.

     Nhưng chúng ta quyết không mất cảnh giác! Trung Quốc rút tàu ra nhưng nay mai Trung Quốc vẫn có thể kéo tàu trở lại, vì Trung Quốc như đã chứng tỏ trong quá khứ... Tuy là thành viên P-5, tuy cũng ký vào UNLOS-1982, nhưng Trung Quốc luôn “múa gậy vườn hoang” trên Biển Đông bất chấp dư luận.

     Để tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng thì tiền đề của công cuộc kết nối ở cấp độ khu vực lẫn toàn cầu hiện nay chính là quyền tự do chọn lựa. Chỉ có điều, từ nay chúng ta không lựa chọn “theo phe”, mà chúng ta lựa chọn “sự hội nhập”. Cấp độ hội nhập nào, định chế quốc tế nào phục vụ cho lợi ích tối cao của dân tộc thì chúng ta chủ động tham gia.

     Chính xuất phát từ lợi ích tối cao của đất nước, chúng ta mới tham gia WTO, CPTTP và đang đàm phán về RCEP để kiến tạo nên một hệ thống các quan hệ đối tác toàn diện và đối tác chiến lược với các nước. Sự hợp tác về quốc phòng và an ninh ngày càng chặt chẽ giữa ta với các quốc gia trong Bộ Tứ từ đại khu vực Ấn Thái Dương (Nhật, Mỹ, Ấn Độ, Úc) và với Liên minh châu Âu mới đây là những bước tiến vững chắc trên con đường trở thành thành viên tin cậy và có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế.

     Hướng tới hội nhập sâu rộng để giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, trên cả đất liền lẫn cả ở ngoài biển đảo, hẳn nhiên đòi hỏi chúng ta phải vượt qua không ít thách thức, khắc phục nhiều yếu kém.

     “Độc lập -Tự do -Hạnh phúc” không chỉ làm nên quốc hiệu cho một nền cộng hòadân chủ Việt Nam cách đây 74 năm, mà nó còn là chuỗi giá trị đồng hành cùng Việt tộc đi vào kỷ nguyên mới. Chuỗi giá trị này vẫn nguyên vẹn và mãi mãinguyên vẹn như một tứthơ trữ tình hoànhtráng và lộng lẫytừ những năm tháng kháng chiến trước đây ở Việt Bắc:

     “Xiềng xích chúng bay không khóa được/Trời đầy chim và đất đầy hoa/Súng đạn chúng bay không bắn được/Lòng dân ta yêu nước thương nhà!”.Lứa tuổi hai tư mà Nguyễn Đình Thi bật ra tứ thơ như thế này thì quả là phải lấy cảm hứng từ dân tộc và thời đại mới viết nổi.

     Đúng như nhận định của giới phê bình, đó là một tứ thơ làm rạng ngời non sông đất nước, làm cho chúng ta tràn đầy tự hào và tin tưởng ở tương lai. Đất nước ấy -Dân tộc ấy, với những ngày thu xưa cách đây 74 năm, sẽ mãi mãi trường tồn. Nó hun đúc lên chủ quyền của người Việt, của giống nòi dân Việt, không ai có thể tước bỏ, không ai có thể xâm phạm.

     Tự do và Lòng yêu Tổ quốc mãi mãi là những giá đỡ cho chúng ta vững bước tiến vào thời đại mới, thời đại của “độc lập dân tộc gắn với hội nhập quốc tế”; thời đại của không gian tự do để có thể trở thành “thành viên theo sát” (shadow member) các định chế khu vực và toàn cầu.

 

Thứ tư, 14 Tháng 8 2019 08:58
Xem tiếp...

1. Sáng 01/8, tiếp tục các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52) và các Hội nghị liên quan tại Bangkok, Thái Lan, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Taro Kono đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Nhật Bản. Trên cương vị là nước điều phối quan hệ ASEAN - Nhật Bản giai đoạn 2018-2021, phát biểu chung thay mặt các nước ASEAN, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh ghi nhận quan hệ ASEAN - Nhật Bản đã phát triển bền chặt hơn 45 năm qua, chia sẻ tin cậy và hiểu biết, đem lại những lợi ích lớn lao cho hai bên và đóng góp vào hòa bình, ổn định, an ninh và thịnh vượng ở khu vực. Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cũng mong muốn Nhật Bản tiếp tục ủng hộ lập trường của ASEAN về Biển Đông, cùng xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, ổn định vì hợp tác và phát triển.

2. Nhật Bản đã xây dựng “vòng cung chiến lược ” Nhật Bản - ASEAN từ rất sớm. Vai trò Nhật Bản đối với các nước ASEAN in đậm dấu ấn trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hoá - giáo dục, khoa học- kĩ thuật ngoại giao và bảo vệ môi trường.

https://m.baomoi.com/hoan-nghenh-tieng-noi-xay-dung-tich-cuc-cua-nhat-ban/c/31681580.epi

Ngay từ năm 1974, Nhật Bản đã có sáng kiến tổ chức hoạt động cho tuổi trẻ và học sinh sinh viên với các nước Đông Nam Á. Đó là hoạt động giao lưu của tuổi trẻ sinh viên Nhật Bản trên con tàu thanh niên Nhật Bản - Đông Nam Á (SSEAYP) đã được triển khai trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Chính phủ Nhật Bản với chính phủ 5 nước Đông Nam Á lúc đó, gồm: Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore và Thái Lan. Bru-nây Đa-rút-xa-lam gia nhập năm 1984. Sau khi gia nhập ASEAN vào tháng 7.1995 thì Việt Nam chính thức tham gia SSEAYP từ năm 1996. Tương tự như thế, Lào và Myanmar gia nhập ASEAN tháng 7.1997 và tham gia SSEAYP từ 1998; cuối cùng là Campuchia trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào tháng 4.1999 và tham gia SSEAYP năm sau đó. Như vậy từ năm 2000, Chương trình đã có sự tham gia đầy đủ của 11 nước gồm Nhật Bản và các thành viên ASEAN.

Tàu Nippon Maru (SSEAYP)

Hoạt động chính của SSEAYP trên tàu và tại các nước tàu đến thăm

Tất cả hoạt động trên tàu do Ủy ban Điều hành Tàu (Cruise Oerating Commitee - COC) quyết định và các thành viên (Participating Youth - PY) phải tuân thủ, thường tập trung vào các nội dung chính như: thảo luận, hoạt động theo nhóm đoàn kết, hoạt động CLB giới thiệu về mỗi quốc gia, sinh hoạt nghệ thuật...

Tại các quốc gia tàu đến, có chương trình chào xã giao và lễ tiếp đón của mỗi quốc gia, homestay với người dân bản xứ, tiệc chiêu đãi trên tàu và tham quan tàu, chương trình giao lưu với thanh niên địa phương và nhiều hoạt động khác.

3. Tầm ảnh hưởng của SSEAYP trong những năm qua là rất to lớn và sâu rộng đến thanh niên các nước Nhật Bản và ASEAN.

Những người trẻ trong khu vực sẽ có cơ hội vô cùng quý giá để mở rộng tầm nhìn ra thế giới cũng như phát huy các khả năng của bản thân thông qua các hoạt động trên con tàu Nippon Maru và tại mỗi quốc gia tàu cập cảng.

Nippon Maru được ví von như một trường học đặc biệt giữa đại dương, nơi các đại biểu được trao đổi kiến thức, giao lưu văn hóa và trau dồi kinh nghiệm, để hoàn thiện bản thân tốt hơn mỗi ngày. Từ đó, có những đóng góp thiết thực cho cộng đồng ngay chính trên quê hương cũng như cùng tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia.

Hầu hết những sinh viên ưu tú của các nước Đông Nam Á và Nhật Bản tham gia trên đoàn tàu hữu nghị này đều trở thành lãnh đạo của các nước Đông Nam Á và Nhật Bản.

Đoàn đại biểu thanh niên, sinh viên Việt Nam tham gia tàu NIPPON Maru năm 2015

Đó chỉ là một ví dụ nhỏ về chiến lược ngoại giao và đoàn kết hữu nghị của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á.

https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/tau-thanh-nien-dong-nam-a-nhat-ban-sseayp-2015-chinh-thuc-nho-neo-20151027093532377.htm

https://tuoitre.vn/28-ban-tre-don-thanh-xuan-o-sseayp-2019-la-ai-20190729180846591.htm

Cần khẳng định rằng: bất kỳ hành vi gây hấn nào của Trung Quốc đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á đều bị coi là xúc phạm và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhật Bản./.

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cau-chuyen-asean-mot-con-ngua-dau-ca-tau-bo-co

 

Thứ sáu, 02 Tháng 8 2019 22:43
Xem tiếp...

Bộ trưởng các nước ASEAN

Việt Nam là một thành viên chính thức và có trách nhiệm của cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á ASEAN.

Việc bãi Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế trong lãnh hải của Việt Nam bị Trung Quốc xâm phạm những ngày qua là một sự kiện gây bất ổn cho tình hình tại khu vực.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc lần thứ 52

Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc lần thứ 52 ở Thái Lan chiều 31/7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định tình hình Biển Đông đang diễn biến phức tạp, trong đó có các hành động đơn phương như quân sự hóa, gia tăng tập trận quân sự, đặc biệt là tàu khảo sát HD-8 của Trung Quốc được các tàu hải cảnh và dân binh hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, tiến hành các hoạt động khảo sát trái phép.

Tối 31/7, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã ra tuyên bố chung, trong đó kêu gọi các bên tránh làm tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng việc cải tạo thực địa hay các sự cố nghiêm trọng.

Trong Tuyên bố chung được phát đi, các Bộ trưởng ghi nhận quan ngại về các hoạt động tôn tạo bồi đắp, đặc biệt là những sự cố nghiêm trọng đang diễn ra trên Biển Đông, đã làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và gây phương hại tới hòa bình, an ninh và ổn định khu vực.

Theo đó, ASEAN tái khẳng định tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, kêu gọi các bên kiềm chế, không quân sự hóa và tránh có các hành động làm phức tạp tình hình; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982. Các nước ASEAN cam kết duy trì tiếp tục nỗ lực thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất.

https://m.baomoi.com/amm-52-ra-tuyen-bo-chung-bay-to-quan-ngai-ve-tinh-hinh-bien-dong/c/31676521.epi

“Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Đó là câu tục ngữ ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam. Một trong những đạo lý truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam đó chính là tinh thần đoàn kết. Từ bao đời nay, người Việt luôn được giáo dục những bài học về “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân” để khuyên cộng đồng đạo lý biết sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn. 

Bằng cách ví von với hình ảnh “ngựa” và “cỏ”, tổ tiên người Việt đã đưa ra một bài học đạo lý thật sâu sắc biết nhường nào. “Một con ngựa” là đại diện cho một cá nhân nằm trong một “Tàu”* tức là một tập thể. Khi con ngựa bị đau thì cả tàu cũng đau buồn, lo lắng đến “bỏ cỏ”. Từ đó, bao đời nay tổ tiên người Việt liên tưởng đến con người trong một tập thể, mỗi người phải biết giúp đỡ, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn, thử thách, cần biết sống vị tha, luôn nhớ về đồng loại của mình...

“Con ngựa” Việt Nam đang đau, “con ngựa” Philippines cũng đang đau - vì những hành vi đe dọa liên tục từ phía Trung Quốc. 

Rồi đây, những “con ngựa” khác trong khối ASEAN cũng sẽ tiếp tục bị đe dọa như vậy từ phía Trung Quốc. 

Do vậy, cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á ASEAN hơn lúc nào hết phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối như “bó đũa” thì mới có thể đương đầu với tham vọng bành trướng của phía Trung Quốc(!)

Việt Nam phải hùng cường. ASEAN phải lớn mạnh và đoàn kết chặt chẽ đó là đòi hỏi tất yếu hiện nay./.

https://m.baomoi.com/viet-nam-len-an-tau-trung-quoc-xam-pham-vung-dac-quyen-kinh-te-tai-bien-dong/c/31676590.epi

 

 [*]Tàu cũng có thể hiểu là máng cỏ của ngựa. Và cũng có thể hiểu là đàn ngựa trên một chiếc tàu.

Thứ năm, 01 Tháng 8 2019 16:18
Xem tiếp...

Vị trí bãi Tư Chính ở Trường Sa   Nguồn: Internet

Những ngày qua, việc nhóm tàu địa chất HD8 của Trung Quốc (TQ) có các hoạt động thăm dò địa chất trái phép gần khu vực bãi Tư Chính - Vũng Mây nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đang trở thành tâm điểm của dư luận quốc tế cũng như trong nước. Các trang mạng “Dân làm báo”, “Người Việt”; Fanpage “Việt Tân”; FB cá nhân “Nguyễn Văn Đài”, “Bùi Thanh Hiếu”, “Nguyễn Hữu Vinh” thi nhau đăng đàn “Việt Nam hèn nhát trước TQ”, “lãnh đạo không quan tâm đến chủ quyền biển đảo”, “truyền thông ĐCS từ bỏ vai trò thông tin”, “truyền thông của lãnh đạo bưng bít thông tin xấu để giữ hình ảnh tốt đẹp”, thậm chí chúng còn cho rằng ông lãnh đạo này, bà lãnh đạo kia “bắt tay” hợp tác, “cúi đầu” trước TQ…

Cần hiểu chính trị - ngoại giao là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phải khôn ngoan, tỉnh táo, nhẫn nhịn, mềm dẻo, bản lĩnh, cứng rắn và kiên quyết hành động sao cho có lợi nhất với đất nước. Giải quyết vấn đề Biển Đông cần phải căn cơ có những đối sách khôn khéo, Việt Nam không cần nói nhiều mà phải lên tiếng đúng lúc, đúng thời điểm, đồng thời quyết tâm bảo vệ biển, đảo bằng hành động quyết liệt nhất. 

Chúng ta cũng đã quá hiểu dã tâm cũng như hành vi ngang ngược của TQ; nếu ta cứ ra rả chửi thì mặc nhiên rơi đúng vào mưu đồ hướng lái dư luận hiểu là Bãi Tư Chính đang “có tranh chấp” của TQ, mà sự thật là không có “tranh chấp” nào, hành động của Việt Nam đang kiên quyết, cứng rắn đuổi kẻ xấu ra khỏi nhà. Còn nếu chúng ta nóng giận khi bị khiêu khích mà nổ súng trước thì chắc chắn rơi vào bẫy của “gã láng giềng” xảo quyệt này, TQ có được cái cớ để biến từ thủ phạm thành “nạn nhân”, “đường hoàng” đưa lực lượng, phương tiện quân sự ra thôn tính Biển Đông theo kịch bản của họ.

Bộ Ngoại giao ta đã rất thận trọng trước khi đưa ra phát ngôn chính thức đầu tiên khẳng định: “Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hợp Quốc”. Từng câu chữ ngắn gọn, súc tích cho thấy sự tính toán kỹ lưỡng, thể hiện thông điệp cứng rắn vừa đúng thực tế, vừa phù hợp với luật pháp quốc tế. Quan trọng nhất, TQ và các nước khác sẽ không có cơ hội mập mờ thông tin, biến bãi Tư Chính hay vùng biển lân cận thuộc chủ quyền của Việt Nam thành nơi “có tranh chấp”. Bước đi chắc chắn không để phát sinh những vấn đề bất lợi cho Việt Nam trong quá trình khẳng định, bảo vệ chủ quyền về sau.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu đích danh nhóm tàu Hải Dương 8

vi phạm chủ quyền Việt Nam trên biển    Nguồn: NLĐO

Trên thực địa, hàng trăm chiến sỹ đang bám biển, bám tàu, bám nhà giàn, đổ mồ hôi sôi nước mắt để bảo vệ từng hải lý, từng hòn đảo thuộc chủ quyền biển Việt Nam; giữa biển khơi khắc nghiệt, đầy sóng gió, hiểm nguy, tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc, họ vẫn âm thầm chiến đấu, không như một số kẻ chỉ biết dùng võ mồm bô bô, cào bàn phím trên mạng nói chuyện yêu nước, yêu biển. Cái các chiến sỹ của chúng ta cần là lời động viên, chia sẻ của người dân từ hậu phương, đất liền để vững tâm, vững tay lái tàu, cầm chắc súng giữ biển, đảo, chứ đâu cần những lời chỉ trích, soi mói, gây thêm áp lực.

Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thấy những người nói ít, thậm chí là biết im lặng mới là những người khôn ngoan; không ai sợ kẻ nói nhiều mà chỉ ngán những người im lặng hành động, đó mới là những người nguy hiểm và không một ai có thể đoán được những gì mà họ suy nghĩ và sẽ làm.

Yêu nước, yêu biển là phải có trái tim nóng, cái đầu lạnh tỉnh táo, chứ đừng biến ta thành những con vịt ngờ nghệch!!!

Nguồn: Facebook Khu 7- Miền Đông Tình Đất Đỏ

 

Thứ năm, 01 Tháng 8 2019 14:45
Xem tiếp...

Giao ban công tác Tuyên giáo cụm 3 tại TX Thái Hòa, Nghệ An

I. Từ những kinh nghiệm tuyên truyền của cụ Phan Bội Châu

   Trong thế kỷ 20, trước Nguyễn Ái Quốc thì Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại, là ngôi sao sáng nhất trong bầu trời cách mạng Việt Nam. Trước hết, cụ là một tấm gương sáng về tuyên truyền cách mạng. Với lòng yêu nước cháy bỏng, năm lên 17 tuổi (1884), Phan Bội Châu đã viết bài hịch “Bình Tây Thu Bắc”, làm phong phú thêm bộ hịch chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Và, cùng với bài hịch “Bình Tây sát tả”(1874) của các trí thức người Nghệ hồi bấy giờ, “Bình Tây Thu Bắc” đã giấy lên một phong trào chống giặc Pháp xâm lược trên quê hương ông và khắp đất nước ta. Điều đó, khẳng định rằng, khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than của cụ Phan là vô cùng to lớn. Là một nhà hoạt động thực tiễn phong phú và giàu năng lực tư duy, lại được tiếp thu nhiều kinh nghiệm tuyên truyền, trong đó có hình thức tuyên truyền bằng thơ, văn từ các bậc tiền bối cách mạng ngoài nước, như Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) và một số chính khách Nhật Bản tại Cô bê - Hoành Tân (Ykohama), Nhật Bản hồi tháng 2 năm 1905, Phan Bội Châu càng nuôi chí lớn cứu nước. Trước hết, Cụ lấy thơ ca để tuyên truyền cách mạng, trong đó có những bài thơ viết bằng máu của mình (Huyết tâm thư) gửi đồng bào ta. Thơ văn của cụ đã khơi dậy mạnh mẽ phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược nước ta vào đầu thế kỷ 20, tiêu biểu là Phong trào Đông Du do cụ khởi xướng và lãnh đạo. Năm 1912, cụ Phan còn đề xướng thành lập Việt Nam Quang phục hội - một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa dân chủ với mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam Cộng hòa dân quốc. Theo cụ Phan, Nhà nước này, không giống kiểu nhà nước “Mãn triều Trung Quốc và Nguyễn triều Việt Nam”. Sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc của cụ Phan tuy không thành, nhưng cụ để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thiết tha và ý chí giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến. Đặc biệt, cụ Phan đã để lại cho chúng ta một di sản văn hóa quí giá, trong đó có những bài học về phương pháp cách mạng, phương pháp tuyên truyền lòng yêu nước cho nhân dân ta.

   II. Tấm gương sáng về hoạt động tuyên truyền của Hồ Chí Minh

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nối những bài học tuyên truyền cách mạng của cụ Phan. Trên đường vào Nam khi dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đã noi gương cụ Phan, tiếp tục tuyên truyền tinh thần yêu nước cho nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ ở cực Nam Trung Bộ. Nguyễn Tất Thành đã vào thư viện trường đọc nhiều sách, trong đó có sách của Phan Bội Châu, Lương Khải Siêu. Nguyễn Tất Thành có thêm nhiều tri thức, kinh nghiệm, tạo thêm sức mạnh và niềm tin trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước của mình... Từ đó, công tác tuyên truyền luôn luôn đặt ở vị trí quan trọng, hàng đầu và gắn chặt với sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi ra nước ngoài, trước hết ở Pháp và với hơn 30 nước khác trên thế giới, khoảng 20 vạn km đã đi qua, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minhluôn coi trọng và tích cực tuyên truyền với nhiều hình thức, trong đó có thơ, văn, báo chí. 

    Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Quyền của các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo ngày 18 tháng 6 năm 1919 đến tác phẩm cuối cùng Thư trả lời Tổng thống Mỹ đăng trên báo Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1969 thì Hồ Chí Minh đã để lại hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria năm 1922); Quốc tế nông dân (1924); Thanh niên (1925); Công nông (1925); Lính Kách mệnh (1925); Thân ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam độc lập (1941); Cứu quốc (1942). Đặc biệt, sau thời gian ngắn Đảng ta ra đời, ngày 01 tháng 8 năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã có tài liệu kêu gọi nhân dân ta chống chiến tranh phát xít, ủng hộ hòa bình thế giới. Ngày đó (01/8/1930), nay trở thành Ngày truyền thống của ngành Tư tưởng, Văn hóa - ngành Tuyên giáo của Đảng.

    Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh, với vốn hiểu biết văn hóa Đông, Tây và ngoại ngữ sâu rộng, viết rất nhiều bài báo bằng tiếng nước ngoài, như: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc… tạo nên những tác phẩm báo chí xuất sắc.

   Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một kho tàng đồ sộ, phong phú, bao gồm nhiều thể loại như chính luận, tiểu phẩm, truyện, ký và thơ… Ở thể loại nào, Người cũng có những tác phẩm đặc sắc, thể hiện là cây bút hàng đầu.

   Về nội dung viết thể loại chính luận, theo Người chỉ có một “đề tài” là: Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người coi đó là duyên nợ của mình với báo chí. Sự nhận thức nhất quán về nội dung mục tiêu đã lựa chọn ấy, là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho Người viết nên những tác phẩm báo chí kiệt xuất, cũng như những văn kiện lịch sử hào hùng về cách mạng Việt Nam, mà nay trở thành những bảo vật Quốc gia: Bản Tuyên ngôn độc lâp (2/9/1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946), Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước (17/7/1966), Di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh (10/5/1969),…

   Về tiểu phẩm, Người đã có hàng trăm bài viết bằng nhiều thứ tiếng, như Pháp, Anh, Trung Quốc… Những tiểu phẩm Người viết bằng tiếng Pháp, như: Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (Nhân đạo 24/6/1922); Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Người cùng khổ, số 36,37, tháng 9,10, năm 1925); kịch Con rồng tre v.v… Chỉ tính riêng trên báo Nhân dân từ năm 1950 đến năm 1969, Người đã viết 1.200 bài tiểu phẩm. Đặc biệt, trong đó về đề tài chống quan liêu, tham nhũng kể cả dưới chế độ thực dân lẫn dưới chế độ ta, Hồ Chí Minh đã viết 163 bài.

    Về truyện và ký, Hồ Chí Minh là cây bút lớn có hàng trăm bài viết, trong đó đáng chú ý là lúc đang hoạt động ở Pháp, vào những năm 20 của thế kỷ XX. Bằng nghệ thuật ngôn từ bậc thầy, Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa vốn tri thức của nhân loại với văn hóa dân tộc, văn hóa phương Đông và phương Tây đã tạo nên những ấn phẩm bài viết của mình kiệt tác.

    Nền báo chí Việt Nam, in đậm dấu ấn lịch sử bằng sự kiện Hồ Chí Minh sáng lập ra tờ báo Thanh niên (21/6/1925) khi Người đang hoạt động cách mạng ở  Quảng Châu, Trung Quốc. Và, khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1941), Người đã sáng lập, tổ chức hoạt động tờ Việt Nam độc lập, tiếp đó, năm 1942, Người tổ chức thành lập báo Cứu quốc. Sau khi giành chính quyền năm 1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, do trách nhiệm nặng nề đối với cách mạng, với Nhân dân, Người không trực tiếp lãnh đạo các tòa soạn báo, nhưng Người liên tục viết rất nhiều bài cho các báo: Sự thật, Cứu quốc, Nhân dân, Vệ quốc quân, Tập san sinh hoạt nội bộ…

   Hồ Chí Minh đã viết nhiều thể loại báo chí. Mỗi bài báo, Người thường dùng những văn phong dân giã, dễ nhớ và dễ làm theo. Thể loại nào cũng hay, xuất sắc. Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ động và sáng tạo sự kết hợp giữa báo chí với văn học và nhiều hoạt động tinh thần khác. Cho đến nay, phần lớn những bài báo của Bác Hồ vẫn có sức sống và mới mẻ, vẫn có tác động với hiện tại. Bởi vì, Người đã biết kết hợp được tính thời sự với tính chất lâu dài bền vững ở các bài báo; giữa yêu cầu thực tiễn và tính lý luận sắc sảo, giữa cứ liệu vững chắc với nhận định sáng suốt; giữa tính dân tộc với tính thời đại; giữa nội dung với hình thái biểu hiện…

III. Nhiệm vụ tuyên truyền hiện nay.

Bà Nguyễn Thị Thu Hường - UV Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tặng Giấy khen

cho đại diện các ban Tuyên giáo có thành tích xuất sắc trong công tác Tuyên giáo năm 2018

Kỷ niệm 89 năm, Ngày Tư tưởng, Văn hóa của Đảng (01/8/1930-01/8/2019) là dịp để chúng ta ôn lại, học tập và làm theo cách tuyên truyền của cụ Phan, đặc biệt là hoạt động tuyên truyền cách mạng của Hồ Chí Minh. Đây là một yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng, hàng đầu, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

Trong tình hình thế giới những năm gần đây đầy biến động, phức tạp và khó lường. Đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển ngày càng rộng và sâu, cách mạng nước ta, tuy có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức; sự phát triển chóng mặt của cuộc cách mạng 4.0, của Công nghệ thông tin; sự tuyên truyền phản động tinh vi, trắng trợn của các lực lượng thù địch trong và ngoài nước đối với cách mạng nước ta; sự thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng… của một phận có chức có quyền đã dẫn đến tự chuyển hóa, “tự diễn biến hòa bình” hết sức nguy hại cho cách mạng nước ta… Vì vậy, đòi hỏi những người làm công tác tuyên truyền phải không ngừng học tập và làm theo gương tuyên truyền cách mạng của các bậc tiền bối cách mạng, đặc biệt là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa.

   Thiết nghĩ để công tác tuyên truyền, công tác tuyên giáo trong bối cảnh hiện nay đạt hiệu quả cao, đội ngũ những người làm công tác này cần chú ý:

1. Luôn luôn nhận thức tầm quan trọng hàng đầu của công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa, công tác lý luận.

2. Quán triệt nội dung, mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền đối với yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra.

3. Bám sát tình hình thực tiễn, nắm chắc đặc điểm đối tượng tuyên truyền. Thường xuyên đổi mới phương thức, phương pháp tuyên truyền, kết hợp và sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp (chú ý phương pháp sư phạm) với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, hấp dẫn, thiết thực, đặc biệt là hình thức viết, nói, sân khấu hóa… nhằm đạt hiệu quả cao.

4. Không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tuyên truyền trong tình hình mới. Coi trọng việc nâng cao trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin phục vụ công tác truyên truyền. Thường xuyên rèn luyện, tự học, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động tuyên truyền trong tình hình mới hiện nay.

5. Bám sát thực tiễn, phát hiện gương người tốt, việc tốt, kịp thời nêu gương và phát huy tác dụng. Kiên quyết đấu tranh phê phán, ngăn chặn và loại trừ những biểu hiện tiêu cực, phản động trong và ngoài nước, đồng thời chỉ ra những hạn chế, tiêu cực để phê phán và khắc phục…góp phần ổn định và thúc đẩy kinh tế -  xã hội phát triển.

6. Giữ vững và phát huy các giá trị có tính nguyên tắc của hoạt động tuyên truyên cách mạng, xây dựng lập trường chính trị vững vàng; Thường xuyên giáo dục và tự giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người làm công tác Tuyên giáo trong tình hình hiện nay.

7. Nghiên cứu, học tập và làm theo gương tuyên truyền của các bậc tiền bối, đặc biệt, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và công tác tuyên truyền của Người nói riêng là trách nhiệm và yêu cầu cao đối với ngành Tuyên giáo hiện nay.

Công tác tuyên truyền làm tốt sẽ có ý nghĩa thiết thực và quan trọng, tạo thêm niềm tin, động lực thúc đẩy sự nghiệp Tuyên giáo phát triển, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới xây dựng và  bảo vệ đất nước Việt Nam ngày càng văn minh, giàu đẹp./.

 

                                                                                                                   B.Đ.S

 

Thứ năm, 01 Tháng 8 2019 07:42
Xem tiếp...

Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014

5 năm trước, ngày 02/5/2014,Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam và tiến hành khoan thăm dò dầu khí.

Chính phủ ta đã mạnh mẽ tố cáo hành động này của TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông. Ngày 11/5, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 24, Thủ tướng ta kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế, tuyên bố Việt Nam sẽ nghiên cứu mọi phương án bảo vệ chủ quyền, kể cả phương án kiện TQ lên tòa án quốc tế. Trong các ngày 12-14/5 đồng bào ta một số nơi tự phát tổ chức biểu tình phản đối TQ.

Hành động ngang ngược của TQ đã gây ra sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Trước phản ứng quyết liệt của Việt Nam và thế giới, ngày 18/6 Ủy viên Quốc vụ TQ (chức vụ trên Bộ trưởng, dưới Phó Thủ tướng) Dương Khiết Trì đến Hà Nội hội đàm với Bộ trưởng Phạm Bình Minh nhằm giảm tình hình căng thẳng. Ngày 16/7, TQ rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, sớm 1 tháng so với kế hoạch ban đầu.

Cuộc đấu tranh chống lại vụ TQ đưa giàn khoan 981 vào vùng biển Việt Nam để lại cho chúng ta những bài học hữu ích đến nay vẫn cần ôn lại.

Mặc dù trắng trợn vi phạm chủ quyền của Việt Nam nhưng TQ luôn tuyên truyền rằng Việt Nam mới là kẻ quấy rối họ thực thi chủ quyền. Ngày 19/6/2014, “Nhân dân Nhật báo”cơ quan ngôn luận của Nhà nước TQ đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam: Kẻ hư hỏng nên tỉnh ngộ trở về”(TQ phụng khuyên Việt Nam “Lãng tử hồi đầu”) [1]. Tác giả bài báo lời lẽ xách ménày là bà Tô Hiểu Huy (苏晓晖Su Xiao Hui), Phó Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề Quốc tế của TQ. 

Xin đọc một số câu trong bài báo này (chúng tôi in đậm những chỗ cần chú ý):

Trong tình hình Việt Nam mạnh mẽ quấy nhiễu công việc bình thường của công ty TQ tại quần đảo Tây Sa[Việt Nam gọi là Hoàng Sa], gây nên tình thế căng thẳng liên tục nâng cấp, Ủy viên Quốc vụ TQ Dương Khiết Trì đã đến Việt Nam hội đàm với Trưởng đoàn Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương TQ-VN. Trong hội đàm, hai bên đều tỏ ý coi trọng mối quan hệ song phương và ý muốn quản lý kiểm soát tình hình trên biển; tình thế căng thẳng suýt bùng nổ đã dần dần được hòa hoãn...

Chuyến đi của Dương Khiết Trì cho thấy “TQ một lần nữa tạo cơ hội cho Việt Nam ghìm ngựa trước vực thẳm.Trước đó TQ đã nhiều lần nghiêm chỉnh tuyên bố quần đảo Tây Sa là lãnh thổ vốn có của TQ, không tồn tại bất cứ tranh chấp nào, và yêu cầu Việt Nam ngừng quấy rối tác nghiệp [thăm dò dầu khí, xây đắp đảo...] của phía TQ... Trong hội đàm, Dương Khiết Trì một lần nữa nói rõ giới hạn cuối cùng đối với Việt Nam, TQ mong muốn Việt Nam từ bỏ dã tâm không thiết thực, ngừng tạo ra các tranh chấp mới, quản lý được bất đồng, tránh gây thiệt hại lớn hơn cho mối quan hệ song phương. TQ bỏ ra rất nhiều công sức khuyên Việt Nam Lãng tử hồi đầu, nhưng Việt Nam có thể đi cùng TQ hay không thì vẫn là vấn đề chưa biết....

Câu cuối cùng viết mập mờ, không rõ đây là lời Dương Khiết Trì hay lời Tô Hiểu Huy; nhưng đã đăng trên “Nhân dân Nhật báo” thì chắc chắn là quan điểm của Nhà nước TQ.

Chữ Hán “Lãng tử” là đứa con/em hư hỏng, bỏ nhà đi lêu lổng. “Lãng tử hồi đầu” là đứa con/em hư hỏng [đã đến lúc] ăn năn hối lỗi, cải tà quy chính, trở về với gia đình.

Trước thái độ nước lớn kẻ cả nói trên của TQ, chúng ta cần trả lời: Việt Nam đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ nước mình là hoàn toàn chính đáng, không có gì phải ăn năn hối cải và chẳng có cái gia đìnhnào để chúng ta trở vềcả.

Tại TQ lâu nay vẫn lưu hành một quan điểm lịch sử cho rằng, Việt Nam vốn là đất của TQ, về sau lợi dụng cơ hội nội bộ TQ loạn lạc mà tách ra thành một quốc gia riêng; dân tộc Việt Nam vốn là một trong các tộc người bị tộc Hoa Hạ ở Trung nguyên gọi vơ đũa cả nắm là «Bách Việt», như Mân Việt, Ngô Việt, Lạc Việt...; trong khi các tộc này đều phục tùng sự «chinh phục» [thực ra là xâm lược và cai trị, cướp bóc, đồng hóa] của tộc Hoa Hạ thì tộc Việt Nam lại cứng đầu cứng cổ tách ra khỏi «gia đình Bách Việt», độc lập với TQ; nay đã đến lúc Việt Nam - đứa con hư hỏng bỏ nhà ra đi này nên sớm hối cải, trở về với «gia đình» [nói cách khác, trở thành nước chư hầu của TQ].

Không ít dân mạng TQ tuyên truyền quan điểm nói người Việt Nam vốn là người TQ, sống trên đất TQ, có vương triều đầu tiên là triều Triệu Đà nước Nam Việt, hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của nước này chính là miền Bắc Việt Nam; về sau Việt Nam giành độc lập, tách ra thành một quốc gia nhưng vẫn triều cống TQ, nhận làm một «phiên quốc» [nước phên giậu] của TQ, cho tới khi bị Pháp chiếm (1884). Sử chính thống Việt Nam không coi nhà Triệu là vương triều của mình, chứng tỏ họ không còn coi TQ là «tôn chủ quốc» [chính quốc, nước mẹ] của mình, như thế là vong ân phụ nghĩa....

Các quan điểm kể trên hoàn toàn trái với sự thật lịch sử, cần dứt khoát bác bỏ.  Dưới đây xin trình bày quan điểm của chúng tôi về các vấn đề đó.

1- Lãnh thổ Việt Nam không phải là đất của Trung Quốc.

Sau khi đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, năm 1428, Lê Lợi ra «Bình Ngô Đại cáo» tuyên bố: «Như nước Đại Việt ta thủa trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác…»

Đúng là «bờ cõi đã chia»: mảnh đất chữ S này trước đời Tần là một vùng đất riêng biệt, người phương Bắc chưa hề đặt chân tới. Thiên nhiên rào chắn mảnh đất này cả bốn phía: phía Tây có dãy Trường Sơn ngăn cách; phía Đông và Nam được biển bọc kín, phía Bắc có dãy Thập vạn đại sơn hiểm trở. Việt Nam cách rất xa vùng Trung nguyên TQ - nơi sinh ra tộc Hoa Hạ (từ triều Hán trở đi gọi là tộc Hán) và từ đời Tần xuất hiện đế chế Trung Hoa cùng chủ nghĩa Đại Hán. Chỉ sau khi bị nhà Tần chiếm (214 TCN), nước ta bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc và từ đó mới bắt đầu tiếp xúc với nền văn minh Trung Hoa. Đất nước này dù bị TQ cai trị hơn 1000 năm và về sau bị Pháp cai trị 80 năm nhưng vẫn là đất của dân tộc Việt Nam. Nếu nói lãnh thổ nào từng bị TQ chiếm đóng đều là lãnh thổ TQ thì cả châu Âu và TQ đều là lãnh thổ của Mông Cổ chăng?

Quá trình bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán khởi đầu bằng việc Tần Thủy Hoàng «chinh phục, thống nhất 6 nước», thực chất là xâm chiếm lãnh thổ 6 nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề trong các năm 230-221 TCN nhằm biến nước Tần thành một đế quốc lớn mạnh. Quân Tần giết người như giết ngóe, dã man tới mức dù nước Hàn đã đầu hàng nhưng chúng vẫn «Ngũ mã phanh thây» vua nước Hàn và xử chém hàng trăm nghìn tù binh nước Triệu; dân thường bị giết nhiều vô kể. Thủ đoạn tàn ác này khiến các nước xung quanh sợ hãi, nhanh chóng đầu hàng khi bị quân nhà Tần xâm chiếm.

Năm 219 TCN, nhà Tần cho 50 vạn quân đánh xuống phía Nam Trường Giang, quê hương của các bộ lạc «Bách Việt», trong đó có vùng Lĩnh Nam ở phía Nam dãy Ngũ Lĩnh. Cuộc chiến này ác liệt hơn cuộc chiến chiếm 6 nước trước đó, nhất là khi gặp sự chống cự của người Lạc Việt ở Quảng Tây. Đến năm 214 TCN, nhà Tần mới chiếm được Lĩnh Nam sau khi mất hơn 10 vạn lính. Từ con số này có thể suy ra bao nhiêu vạn dân Bách Việt từng chết dưới tay quân Tần. Một số bộ lạc Bách Việt phải di tản, nhờ thế tồn tại và trở thành các dân tộc thiểu số ngày nay ở TQ; ví dụ người Lạc Việt, nay là dân tộc Tráng. Các bộ tộc ở lại dần dần bị tiêu diệt hoặc đồng hóa.

Hầu hết các vương triều TQ đều ra sức tăng số dân nước mình bằng chủ trương giết dân ở các vùng chiếm được - chủ yếu giết đàn ông và đưa nhiều người Hán đến định cư. Mấy nghìn năm qua, chúng liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh và đồng hóa các dân tộc thua trận, biến họ thành người Hán.[2] Kết quả là từ một nước Tần ở hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc hơn 2.200 năm trước, hiện nay, tộc Hán chiếm 92% trong số 1.300 triệu người sống trên lục địa rộng 9,6 triệu km2 và còn muốn chiếm 90% diện tích biển Đông. Ngày nay, người TQ tự hào với công trạng ấy, cho dù tổ tiên họ phải trả giá bằng hàng trăm triệu sinh mạng - điều này cho thấy tư tưởng nước lớn «Đại nhất thống» đã ăn sâu vào đầu óc họ như thế nào.

2- Người Việt Nam không phải là người Trung Quốc và không thuộc cộng đồng Bách Việt.

2.1- Xét về mặt ngôn ngữ-tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt các dân tộc. Thời cổ, tổ tiên ta ở xa cách TQ cho nên tiếng Việt Nam thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Tiếng Việt có những âm và thanh điệu không có trong tiếng Hán, như âm b, đ, v, g, nh, ng, ư,... , thanh điệu nặng và ngã

Tiếng Việt có số lượng âm tiết (syllable) nhiều gấp khoảng 15 lần (ngót 18 nghìn so với hơn 1000 âm tiết) [3]; nghĩa là có hơn chục nghìn âm tiết mà tiếng Hán không có, người Hán không phát âm được. Vì thế chữ Hán không thể ghi được tiếng Việt và tiếng Việt không thể nào là một phương ngữ của Hán ngữ. Mặc dù Việt ngữ dùng chữ Hán hai nghìn năm nhưng người TQ không thể nghe hiểu bất kỳ bài văn thơ chữ Hán nào đọc bằng tiếng Việt.

Hán ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý (ví dụ chữ Hán), mà không thể dùng chữ viết loại ghi âm như chữ Quốc ngữ Việt Nam.

Các tộc Bách Việt như Mân Việt, Ngô Việt, Vu Việt, Lạc Việt… đều nói một trong các thứ tiếng địa phương (phương ngữ) của Hán ngữ, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, và chữ Hán ghi được các phương ngữ đó. 

Tháng 11/2016, TQ công bố kết quả công trình «Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt» quy mô nhà nước, kéo dài 8 năm, do sử gia nổi tiếng TQ Lương Đình Vọng chủ trì, xác định 8 dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng [Zhuangdong] là Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão và Mao Nam có tổ tiên chung là người Lạc Việt; trong đó tộc Tráng (Zhuangzu, chữ Tráng viết là Bouxcuengh) đông nhất, là hậu duệ chính gốc của người Lạc Việt [4]; tiếng nói của họ, tức tiếng Lạc Việt, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, khác với ngữ hệ của tiếng Việt Nam.

Thời xưa một số người Tráng di cư đến Việt Nam làm thành dân tộc Tày-Nùng, hiện có 2,7 triệu người. Tiếng Tày-Nùng chính là tiếng Tráng, người Kinh nghe không hiểu.

Về ngữ pháp, một khác biệt rất rõ là tiếng Việt đặt tính ngữ sau danh từ, ngược với Hán ngữ, ta gọi là nói ngược. Ví dụ «Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc» trong Hán ngữ phải đặt tính ngữ «Nhân dân Trung Quốc» lên trước «Ngân hàng», thành «Zhongguo Renmin Yinhang». Tráng ngữ cũng viết «Cunghgoz Yinzminz Yinzhangz» theo thứ tự hệt như Hán ngữ. Trong tiếng Việt, trạng ngữ chỉ thời gian có thể đặt trước hoặc sau chủ ngữ nhưng trong tiếng Hán bao giờ cũng phải đặt trước chủ ngữ.

Lẽ thường các dân tộc ở gần nhau đều có ngôn ngữ giống nhau. Sự khác biệt ngôn ngữ quá lớn kể trên giữa tiếng Việt với tiếng của các tộc Bách Việt là bằng chứng rõ nhất cho thấy dân tộc ta thời xưa không ở gần cộng đồng các tộc Bách Việt.

Dĩ nhiên, sau hơn 10 thế kỷ là quận, huyện của TQ và gần 2.000 năm dùng chữ Hán, ngôn ngữ Việt chịu ảnh hưởng lớn của Hán ngữ, khoảng 60% từ vựng tiếng Việt có gốc chữ Hán.

2.2- Xét về thể hình. Người Việt Nam thuộc chủng người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang… Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học nước ta cho thấy hệ gene của người Việt Nam khác rất xa hệ gene của người Hán. [5]

2.3- Xét về văn hóa. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Hán sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc, nhưng nền văn hóa của dân tộc ta vẫn có nhiều điểm khác. Nổi bật nhất là sự khác biệt về văn hóa chính trị: Người Việt Nam coi độc lập dân tộc là lẽ sống cao nhất; dù bị nước ngoài chiếm đóng cai trị nhưng dân tộc ta xưa nay chưa hề ngừng đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa. Độc lập dân tộc đã trở thành đòi hỏi cao nhất, trên hết; đối với người Việt Nam «Không có gì quý hơn độc lập tự do» (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam đều coi các vương triều TQ cai trị mình là chính quyền của kẻ địch, và không ngừng chống lại chúng. Quan điểm đó hoàn toàn chính đáng. Triệu Đà người Hán quê Hà Bắc, xa Việt Nam hàng nghìn dặm vô cớ đem quân đánh chiếm nước ta đang sống trong hòa bình, gây ra cảnh chết chóc tàn phá đau thương, rõ ràng là kẻ xâm lược. Triều đình nước Nam Việt của Triệu Đà đóng đô tại Phiên Ngung, toàn bộ quan lại, quân đội là người TQ, quan quân cai trị Việt Nam cũng đều là người TQ; chúng chỉ lo áp bức bóc lột dân ta, sao có thể coi nhà Triệu là vương triều của Việt Nam?

Với quan điểm trên, tổ tiên ta, kể cả phụ nữ, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi giặc xâm lược: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), ... Khúc Thừa Dụ (năm 905) và kết thúc bằng chiến thắng giành độc lập của Ngô Quyền (năm 938).

Có sử gia TQ nói Mã Viện diệt khởi nghĩa Hai Bà Trưng là «công việc nội bộ» TQ, tương tự việc đàn áp mọi cuộc nổi dậy khác của nông dân TQ, không thể gọi là xâm lược [6]. Thật vô lý. Dân tộc ta đang sống yên lành bỗng dưng bị bọn người phương Bắc vô cớ đánh chiếm nước ta rồi sáp nhập làm quận, huyện của chúng. Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc chiếm đóng là chính nghĩa. Mã Viện đánh nước ta, rõ ràng là xâm lược.

Đặc biệt hơn cả là, dù bị chính quyền cai trị ép phải học và dùng chữ Hán suốt cả nghìn năm nhưng do hiểu rõ nguy cơ để mất tiếng mẹ đẻ thì sẽ để mất nòi giống dân tộc mình nên tổ tiên ta đã tìm mọi cách giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa tiếng Việt, nhờ thế dân tộc ta không bị Hán hóa. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Thời thuộc Pháp, dân ta cũng đấu tranh thắng lợi đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ buộc người Việt học tiếng Pháp từ bậc tiểu học; nhờ vậy sau 80 năm Pháp thuộc dân ta vẫn không nói tiếng Pháp như các thuộc địa Pháp khác.

Nhưng các tộc Bách Việt như Ngô Việt, Mân Việt… đều khá dễ dàng chấp nhận sự chiếm đóng, cai trị và đồng hóa của nhà Tần. Tộc Lạc Việt có đánh trả và lánh về vùng núi Quảng Tây, nhờ vậy giữ được tiếng nói; nhưng sau đó họ không dám nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược. Ngày nay, họ trở thành một dân tộc thiểu số ở TQ, sống trong Khu Tự trị dân tộc Tráng, không được là một quốc gia độc lập như Việt Nam.

Ngay cả dân tộc Hán đông người nhất thế giới khi bị ngoại tộc (Mông tộc, Mãn tộc…) xâm lược cũng chịu để cho kẻ địch cai trị hàng trăm năm mà không vùng lên đánh đuổi; giới quan lại người Hán ngoan ngoãn làm tôi tớ cho vua chúa ngoại tộc, giúp chúng áp bức bóc lột đồng bào mình, ép họ phải theo văn hóa ngoại tộc. Thời Mãn Thanh, đàn ông TQ phải để đuôi sam theo kiểu tóc tộc Mãn, các triều thần phải khúm núm tự xưng là «nô tài» trước Hoàng đế người Mãn. Chính quyền với đội ngũ quan lại cơ sở hầu hết là người Hán thời kỳ đầu còn bỏ chữ Hán, dùng chữ Mãn, và từng chặt đầu hàng triệu đàn ông TQ không chịu để đuôi sam. Hán tộc và các tộc Bách Việt đều coi nhà Nguyên và nhà Thanh là vương triều của mình, tuy thực ra đó chỉ là vương triều thực dân; thậm chí coi hoàng đế Thành Cát Tư Hãn của đế quốc Mông Cổ là anh hùng, coi Khang Hy là minh quân của người TQ. 

Tóm lại, từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương Bắc xuống; trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam, dân ta không có quan hệ với các tộc người ở bên kia biên giới phía Bắc. Dân tộc ta không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt. Tổ tiên ta chưa bao giờ ngừng đấu tranh giành độc lập dân tộc và trên thực tế đã giành được những thắng lợi vĩ đại, giữ được nguyên vẹn nòi giống và lãnh thổ. Chúng ta kiên quyết giữ vững truyền thông đó, không cho phép bất cứ kẻ nào xâm phạm đất nước này.

Ghi chú:

[1]  党报:中国再给越南机会奉劝浪子早回头        (2014.6.19  人民日报海外版 )

       http://mil.news.sina.com.cn/2014-06-19/0808785650.html

[2]  http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Toc-nguoi-Han-Mot-ban-sac-duoc-kien-tao-16429

[3]  http://tiasang.com.vn/-van-hoa/-van-hoa/Lam-ban-ve-tinh--ghi-y-cua-chu-Han-Nhan-doc-“Nghien-cuu-chu-Han-hien-dai-cua-the-ky-XX”-17438

[4] 《骆越方国研究》发布  (2016.11.07  人民网-文化频道)

        http://culture.people.com.cn/n1/2016/1107/c172318-28842186.html

[5] https://nhandan.org.vn/y-te/item/40887202-cong-bo-nghien-cuu-lon-nhat-ve-bo-gen-cua-nguoi-viet.html

[6]  越南反华情结:教科书写“越南史就是中国侵略史”

      http://history.sohu.com/20140402/n397568099.shtml                                                  

---------

 

Thứ tư, 31 Tháng 7 2019 21:12
Xem tiếp...

Ví trí Bãi Tư Chính ở Trường Sa

Từ 03/7 đến 17/7/2019, tàu thăm dò địa chất Hải Dương-8 (Haiyang Dizhi 8) thuộc diện quản lý của Chính phủ Trung Quốc đã đi vào vùng biển gần với khu vực Bãi Tư Chính - Vũng Mây của Việt Nam. Kềm theo bảo vệ tàu này còn có ba tàu hải giám của Trung Quốc bị vệ tinh phát hiện, đặc biệt là tàu hải giám trên 10.000 tấn ký hiệu 3901 và tàu dân quân biển Qiong Sansah Yu0014. Kịpthời cùng thời điểm ấy, đã xuất hiện các tàu cảnh sát biển mang cờ Việt Nam ở khu vực này, thực hiện các hoạt động cần thiết để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Theo cácnguồn tin từ Twitter của ông Ryan Martison (thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kỳ/US Naval War College), báo “Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng” (South China Morning Post/SCMP) và tổ chức “Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á”(Asia Maritime Transparency Initiative/AMTI), vào thượng tuần tháng 7 vừa qua, trên Biển Đông đã và đang có nhiều diễn biến nghiêm trọng liên quan đến hoạt động của các tàu Trung Quốc, cũng như các phản ứng khá quyết liệt của Việt Nam.Ông Ryan Martinson cũng phát hiện, từ ngày 18/6 đến nay, tàu cảnh sát biển được trang bị vũ khí hạng nặng ký hiệu 35111 của Trung Quốc neo đậu cách Bãi Tư Chính 40 dặm về phía Tây. Hôm 12/7, tàu này đã di chuyển đến Bãi Chữ Thập và sau đó lại quay trở lại khu vực Bãi Tư Chính. Tàu này tuy không trực tiếp tham gia vào việc đi theo bảo vệ tàu Hải Dương-8, nhưng thay vào đó nó thực hiện các hành vi rất khiêu khích xung quanh dàn khoan Hakuryu-5, ở lô 06-01 thuộc Dự án Nam Côn Sơn, liên doanh giữa Việt Nam với Nga.

Gây áp lực đối với Việt Nam

Lần đầu tiên từ nhiều tuần nay, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phê phán đích danh tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Ngày 18/7/2019, tại Hà Nội, trong cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã tuyên bố: “Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương-8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên”.Theo bà Lê Thị Thu Hằng, Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm là “các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”.

Việc Trung Quốc triển khai các tàu hải cảnh và tàu thăm dò địa chất đến Bãi Tư Chính, thuộc quần đảo Trường Sa, chính là nhằm ngăn chặn Việt Nam khẳng định các quyền lợi hợp pháp của mình trước khi các bên đạt được một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Ngày 18/7/2019, chính ông Hu Bo, giám đốc Sáng kiến điều tra tình hình chiến lược Biển Hoa Nam (Biển Đông)thuộc Đại học Bắc Kinh cũng cho rằng, vào đúng thời điểm Trung Quốc và ASEAN đang thương lượng về COC, các bên có liên quan đều có những bước đi triệt để nhằm khẳng định chủ quyền trên các mỏ dầu khí ở Biển Đông, tiến đến thiết lập một nguyên trạng vào thời điểm đạt được thỏa thuận về COC, mà Bắc Kinh hy vọng sẽ là vào năm 2021.Theo lời ông Hu Bo, mộttrong những mục tiêu của Trung Quốc khi đưa chiếc tàu Hải Dương-8 đến Bãi Tư Chính là nhằm cản trở Việt Nam khai thác dầu khí tại khu vực này. Tàu Hải Dương-8, với sự bảo vệ của nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc, đã đến khu vực Bãi Tư Chính ngày từngày 03/7/2019 để tiến hành khảo sát địa chấn. Việt Nam đã có phản ứng, điều động nhiều tàu cảnh sát biển đến hiện trường đối đầu với tàu hải cảnh Trung Quốc.

Cùng vào thời gian nói trên, ngày 18/7/2019, ông Ryan Martison, giảng viên tại Trường Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kỳ, trên mạng Twitter của mình cũng cho biết, theo các dữ liệu mới nhất, chiếc tàu Hải Dương-8 hiện vẫn tiếp tục hoạt động gần Bãi Tư Chính thuộcchủ quyền của Việt Nam.Tờ SCMP nhắc lại là trong thời gian gần đây, Bắc Kinh sử dụng các tàu hải cảnh ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông để đòi chủ quyền của Trung Quốc ở hai vùng biển này. Trong số các tàu hải cảnh được huy động đến khu vực Bãi Tư Chính, có chiếc Haijing 3901, trọng tải 12 ngàn tấn, một trong những tàu tuần duyên lớn nhất thế giới. Tàu này được trang  bị súng máy 76 ly, hai súng phụ và hai súng phòng không. Haijing 3901 còn chở theo một trực thăng và có thể chạy với vận tốc lên tới 25 nút (1 nút bằng 1852 m/giờ). Trong các cuộc đối đầu trên biển, những tàu lớn như Haijing 3901 dĩ nhiên là có lợi thế hơn các tàu của đối phương.

Trướcđó, ngày 16/7, khi trả lời cáccâu hỏi của phóng viên về diễn biến gần đây ở Biển Đông, bà Lê Thị Thu Hằng cũng đã khẳng định, Việt Nam tuyên bố mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế.Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Phản đối thử tên lửa gần Trường Sa

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta, chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam, theo người phát ngôn.

Bộ Ngoại giao đã từng lên tiếng sau đợt tập trận và thử tên lửa đạn đạo chống hạm của Trung Quốc ở gần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trả lời câu hỏi về cuộc tập trận và thử tên lửa đạn đạo chống hạm gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng ngày 04/7/2019 đã tuyên bố: “Việt Nam rất quan tâm và theo dõi sát vụ việc này. Việt Nam đề nghị mọi hoạt động của các bên ở khu vực Biển Đông cần tôn trọng chủ quyền và các lợi ích chính đáng của mọi quốc gia, tuân thủ luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982, đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực”. Trước đó, ngày 02/7, hai quan chức Mỹ giấu tên tiết lộ với NBC rằng Trung Quốc tiến hành thử nghiệm tên lửa đạn đạo diệt hạm đầu tiên vào cuối tuần trước. Vị trí Trung Quốc phóng thử tên lửa không được Mỹ tiết lộ. Cục Hải sự tỉnh Hải Nam ngày 29/6 cho biết tuyên bố quân đội Trung Quốc tiến hành tập trận từ 29/6 đến 03/7, trên khu vực cách quần đảo Trường Sa của Việt Nam khoảng 50 hải lý về phía Bắc.

Phát ngôn viên của Lầu Năm Góc, trung tá Dave Eastburn, nói “hành vi của Trung Quốc trái với tuyên bố muốn mang lại hòa bình cho khu vực của Bắc Kinh” và đánhgiá đây là “hành động mang tính cưỡng bách, với ý nghĩa đe dọa những nước khác có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông”. Trung Quốc từng bị phát hiện triển khai tên lửa trên Đá Chữ thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Từ nhiều năm nay, Bắc Kinh đã bị phêphán vì các hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông, xây dựng các căn cứ quân sự trên các điểm và rạn san hô nhân tạo.Các báo cáo tình báo Mỹ cho biết tháng 5/2018, Trung Quốc âm thầm triển khai tên lửa hành trình diệt hạm và tên lửa đất đối không tại ba đảo nhân tạo ở Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi và Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Trung Quốc cũng nhiều lần bị phát hiện triển khai tên lửa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, trong năm 2018, theo ảnh chụp vệ tinh của tổ chức ImageSat International (ISI).

Cơ chế đối thoại về Biển Đông

Một chỉ huy quân sự hàng đầu của Hoa Kỳ mạnh mẽ chỉ trích Bắc Kinh là đã khoa trương sức mạnh để giành chủ quyền Biển Đông và làm ngơ đề xuất của Mỹ, đề nghị thiết lập một cơ chế liên lạc để giảm thiểu nguy cơ tính toán sai lầm, dẫn tới xung đột trên Biển Đông. Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng (SCMP) dẫn lời phát biểu của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Hoa Kỳ (USINDO-PACOM), Đô đốc Philip Davidson, tại Diễn đàn An ninh Aspen ở Colorado hôm 18/7/2019, khuyến cáo thế giới nên thận trọng về sự bành trướng quân sự đang tăng của Trung Quốc trong khu vực. Đô đốc Davidson cho biết Washington và Bắc Kinh đang tiếp tục các “cuộc đối thoại” ở cấp quân sự, tuy nhiên theo ông, còn cần có một cơ chế liên lạc tránh khủng hoảng để giảm nguy cơ tính toán sai lầm.

Đô đốc Philip Davidson nói:“Hoa Kỳ bấy lâu nay vẫn để ngỏ yêu cầu Trung Quốc mở đường dây liên lạc tránh khủng hoảng giữa Bộ Tư lệnh Miền Nam của Hoa Kỳ vốn chịu trách nhiệm xử lý vấn đề Biển Đông, với Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Đông Trung Quốc, nhưng họ chưa hồi đáp”. Trung Quốc và Hoa Kỳ đang đối đầu trong một cuộc tranh chấp về vấn đề triển khai quân sự trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Bắc Kinh phản đối các hoạt động của Mỹ để bảo vệ tự do hàng hải trong Biển Đông, giữa lúc Hoa Kỳ và các nước láng giềng của Trung Quốc tại Đông Nam Á bày tỏ quan ngại về sự bành trướng lực lượng quân sự của Trung Quốc trong khu vực.

Theo breakingdefense.com, Đô đốc Philip Davidson khẳng định cam kết của Washington sẽ duy trì sự hiện diện quân sự tại vùng biển đang tranh chấp ở Đông Nam Á. Ông nói Hoa Kỳ có mặt trong khu vực không phải để đòi chủ quyền mà là để giải quyết những sự tranh chấp một cách hòa bình và duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật pháp. Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nói: “Nhiều quốc gia mạnh mẽ hậu thuẫn các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải của chúng ta, bất chấp sự chống đối của Trung Quốc”. Ông lưu ý rằng 5 liên minh phòng thủ hỗ tương của Hoa Kỳ nằm trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.Theo trang mạng freebeacon.com, Đô đốc Philip Davidson lưu ý rằng Bắc Kinh đã thử nghiệm tên lửa không lâu sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa đọc diễn văn tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi tháng 6/2019, trong đó ông Ngụy bênh vực việc quân sự hóa các bãi cạn trong các vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông là “quyền chính đáng của Trung Quốc”./.

 

Thứ tư, 31 Tháng 7 2019 20:42
Xem tiếp...

     

Toàn cảnh Hội nghị gặp gỡ Nghệ An - Nhật Bản hợp tác và phát triển năm 2019

     Ngày 21 tháng 7 năm 1969, Bác Hồ đã gửi bức thư cuối cùng cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Bức thư được xem như di chúc của Người dành riêng cho tỉnh nhà. 50 năm đã trôi qua nhưng những lời căn dặn của Bác vẫn còn nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho hành động hôm nay.

     Bức thư và một tấm lòng hết mực vì Dân

Trong thư gửi tỉnh Nghệ An năm 1969, Bác Hồ đã đánh giá những thành tựu ban đầu của tỉnh nhà và “vui mừng nhận thấy cán bộ các cấp, các ngành trong tỉnh đã bước đầu sửa chữa tệ quan liêu, mệnh lệnh, cố gắng đi sát nhân dân để tổ chức vận động nhân dân thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước”. Điều đó chứng tỏ, Bác luôn đặc biệt chú ý đến tinh thần, trách nhiệm, thái độ phục vụ dân của cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, nhân dân luôn được đề cao. Mọi việc làm của Người đều hướng đến lợi ích của dân tộc và nhân dân trước hết. Chính bởi vậy, khi nêu những việc tỉnh Nghệ An sắp tới cần làm, Bác tập trung vào những vấn đề gắn chặt với nhân dân. Trong 4 nội dung Người chỉ ra cho Đảng bộ tỉnh Nghệ An thì có ba điều hướng trực tiếp đến đời sống, quyền lợi của nhân dân. Điều Bác lưu tâm hàng đầu đó là “Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa.” Vấn đề dân chủ với nhân dân không phải được đề cập một cách chung chung mà Người chỉ ra một cách cụ thể những việc tỉnh Nghệ An phải làm để thực hiện điều ấy trong giai đoạn bấy giờ. Đó là để cho “nhân dân bàn bạc kỹ và tự mình quyết định một cách thực sự dân chủ” mọi việc sản xuất, phân phối, quản lý kinh tế, bầu cử các cơ quan phụ trách trong hợp tác xã nông nghiệp; là để dân góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên; là mở các lớp huấn luyện ngắn ngày cho đảng viên, đoàn viên mới; là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự phê bình và biết lắng nghe ý kiến của dân… Tất cả những nội dung này, cho đến nay vẫn luôn thực sự cần thiết để tăng mối quan hệ giữa “dân và Đảng”, để củng cố niềm tin của nhân dân.

     Người nhấn mạnh “Khôi phục và phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết, các đồng chí phải cố gắng làm cho tốt”. Phát triển kinh tế ở đây được Bác chỉ rõ từng vấn đề trong nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, định canh định cư cho đồng bào miền núi, khai thác gỗ và lâm sản, v.v… Quan trọng, Bác nhấn mạnh các hoạt động sản xuất là để “nâng cao đời sống nhân dân” “phải cung cấp nhiều hàng tiêu dùng tốt và rẻ cho nhân dân”. Như vậy, phải biết cách huy động sức mạnh của dân trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, làm sao để tăng năng suất lao động, đồng thời mục tiêu hướng đến của công cuộc ấy không gì khác là để dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

     Quan điểm “vì dân” tiếp tục được Người nhấn mạnh ở nội dung thứ 3 của bức thư: “Hết sức chăm lo đời sống nhân dân”. Bác viết: “Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sỹ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong”. Người không chỉ quan tâm đến mọi lĩnh vực trong đời sống của nhân dân mà còn quan tâm đến mọi đối tượng, tầng lớp trong xã hội, nhất là những người yếu thế. Điều đó không chỉ thể hiện tấm lòng đầy bác ái của một vị lãnh tụ mà còn thể hiện tầm nhìn, hướng đi đúng đắn của Người. Chăm lo cho đời sống của dân, bảo vệ quyền lợi cho những người yếu thế và thực hiện bình đẳng, dân chủ là con đường để gây dựng niềm tin với nhân dân, lấy được lòng dân và giúp phát triển bền vững.

     Luôn đau đáu vì dân và lo cho dân, bởi vậy, cuối thư Người không quên “nhờ Tỉnh ủy chuyển lời của tôi chúc toàn thể đồng bào, chiến sỹ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong tỉnh mạnh khỏe và cố gắng tiến bộ.”

     50 năm thực hiện lời căn dặn của Bác

     50 năm trôi qua nhưng lời gửi gắm của Bác “Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”vẫn luôn còn đó như một mục tiêu phấn đấu của cán bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An. Dù đã nỗ lực rất nhiều và đạt được không ít thành tựu nổi bật song “trở thành một tỉnh khá nhất ở miền Bắc” vẫn là một thử thách lớn của chúng ta. Muốn thực hiện được điều đó, rất cần thiết nhìn lại chặng đường đã qua để nhận thức rõ hơn những điều ta đã làm được và chưa làm được.

                                                                    Sôi nổi các hoạt động VHTT phục vụ nhân dân                                                                    

     Thực hiện căn dặn của Bác, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã tập trung vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế. Thành quả là từ đó đến nay, từ một tỉnh còn thiếu đói và đầy khó khăn, Nghệ An đã đảm bảo được cơ bản nhu cầu lương thực và đời sống của hơn 3 triệu dân. Kinh tế phát triển nhanh, khá bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tổng sản phẩm (GRDP) năm 2018 đạt 115.670 tỷ đồng, đứng thứ 10/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng sản phẩm (GRDP) 5 năm (2014-2018) tăng bình quân 8,0%. Thu ngân sách tăng đều hàng năm, năm 2018 đạt 14.052 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người tăng, năm 2018 đạt 38 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Nông nghiệp dần phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản phẩm sạch, không chỉ đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên địa bàn mà còn phục vụ xuất khẩu. Với sự thay đổi trong chính sách phát triển, cơ chế “trải thảm đỏ” cho nhà đầu tư, thời gian qua, tỉnh Nghệ An đã thu hút được rất nhiều dự án. Chương trình Gặp mặt nhà đầu tư được tổ chức thường niên, là cơ hội để quảng bá hình ảnh tỉnh nhà và kêu gọi các nhà đầu tư. Kết quả, giai đoạn 2014-2018, Nghệ An đã thu hút 690 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 143.000 tỷ đồng, trong đó có 650 dự án đầu tư trong nước 40 dự án FDI. Các khu công nghiệp được xây dựng với sự xuất hiện của nhiều tập đoàn kinh tế lớn trong nước và quốc tế như Khu kinh tế Đông Nam, Khu công nghiệp Nam Cấm, KCN Bắc Vinh, KCN VSIP,… Ngành du lịch ngày càng phát triển mạnh, được tỉnh xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Du khách trong và ngoài nước ngày càng biết đến Nghệ An nhiều hơn. Nhờ rất nhiều nỗ lực xóa đói giảm nghèo, đặc biệt phát triển kinh tế tại vùng núi phía Tây Nghệ An mà chúng ta đã giúp nhiều gia đình thoát nghèo. Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 5,54%. Hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện. Nghệ An hiện có cảng hàng không quốc tế Vinh và hệ thống cảng biển nước sâu quốc tế. Năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Nghệ An xếp thứ 19/63 tỉnh, thành, dẫn đầu các tỉnh Bắc Trung Bộ. Phong trào xây dựng nông thôn mới mang lại nhiều chuyển biến tích cực, thay đổi bộ mặt nông thôn. Tính đến 6 tháng đầu năm 2019, toàn tỉnh đã có 218 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, 3 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và đạt chuẩn nông thôn mới.

     Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống người dân trong tỉnh ngày càng được nâng cao. Thực hiện căn dặn của Bác, tỉnh Nghệ An đã chú tâm nhiều hoạt động nhằm chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Về chăm sóc sức khỏe cho người dân, hiện nay địa bàn tỉnh có mạng lưới bệnh viện, phòng khám đạt chất lượng tốt. Năm 2018, có 89% xã hoàn thành bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Y tế ngoài công lập phát triển nhanh, ngày càng có nhiều dịch vụ chất lượng để người dân lựa chọn. Chất lượng giáo dục đào tạo được đảm bảo. Nghệ An là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về số lượng học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, xứng đáng là mảnh đất có truyền thống hiếu học bao đời nay. Các trường học hiện nay không chỉ đảm bảo về cơ sở vật chất mà chất lượng dạy, học cũng được nâng cao.

     Các hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi nổi ở cả đồng bằng, miền núi và miền biển. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã mang lại những chuyển biến tích cực trong cộng đồng. Các lễ hội được bảo tồn, gìn giữ, phục dựng, tạo không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh cho người dân.

     Một trong những điểm đáng lưu ý là Nghệ An là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phát triển. Ngày 30-7-2013, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Điều đó không chỉ thể hiện sự quan tâm của Trung ương dành cho tỉnh mà còn thể hiện sự ghi nhận những nỗ lực vượt bậc của tỉnh nhà.

Thể dục thể thao phong trào phát triển mạnh trên toàn tỉnh

     Dấu ấn đặc biệt thứ hai trong hành trình thực hiện căn dặn của Bác đối với Nghệ An đó là việc thực hiện dân chủ nhân dân. Có thể nói, vấn đề này ngày càng được quan tâm đúng mức và có nhiều chuyển biến. Nhiệm vụ xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trên địa bàn được triển khai một cách nghiêm túc. Kết quả, đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 90 điểm sáng về quy chế dân chủ ở cơ sở. Nhân dân được tham gia bàn bạc, quyết định và giám sát nhiều vấn đề quan trọng. Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở 100% cơ quan, đơn vị và 100% xã, phường, thị trấn. Việc đối thoại giữa nhân dân và chính quyền được coi trọng. Chính bởi vậy các cuộc tiếp xúc với nhân dân, tiếp dân được tổ chức ở nhiều cấp. Năm 2018, toàn tỉnh đã tổ chức trên 826 hội nghị đối thoại Chủ tịch HĐND và Chủ tịch UBND cấp xã với nhân dân, thu hút hơn 68.000 lượt người tham gia với khoảng trên 9 nghìn ý kiến đối thoại. Cũng trong năm này, lần đầu tiên Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Gặp mặt giữa Thường trực Tỉnh ủy và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền 480 xã, phường, thị trấn để trao đổi, lắng nghe, giải đáp những thắc mắc; tăng cường tiếp xúc để thấu hiểu và cùng hướng đến thống nhất quan điểm, tư tưởng, hành động trong toàn hệ thống chính trị. Năm 2018 cũng đồng thời là năm tỉnh Nghệ An tổ chức thực hiện “Năm dân vận chính quyền”. Các đơn thư, khiếu nại của người dân được tiếp nhận và xử lý khá kịp thời. Chính nhờ đó, chính quyền đã huy động được sức dân trong xây dựng, phát triển kinh tế; đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới; đảm bảo cơ bản an ninh trật tự trên địa bàn.

     Cần dựa vào Dân và thực sự vì Dân

     Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thời gian qua Nghệ An cũng đối mặt với không ít khó khăn thách thức. Cụ thể, kinh tế phát triển chưa xứng với tiềm năng. Chênh lệch trong phát triển còn lớn. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Nhiều vấn đề, tệ nạn trong xã hội đặc biệt là ma túy; lạm dụng bia, rượu chưa được xử lý tốt. Cải cách thủ tục hành chính dù đã có nhiều biến chuyển song vẫn còn nhiều vấn đề gây bức xúc cho người dân. Điều đó dẫn đến nhiều chỉ số của Nghệ An vẫn chưa cao. Ví dụ, năm 2018, chỉ số hài lòng về phục vụ hành chính Nghệ An đạt 81,87% , đứng thứ 34/63tỉnh, thành; Chỉ số hài lòng về tiếp cận dịch vụ đạt 76,66%, đứng thứ 38/63; Chỉ số hài lòng về thủ tục hành chính đạt 87,59%, xếp thứ 27/63 tỉnh, thành; Chỉ số hài lòng về công chức đạt 85.65%, xếp thứ 32/63 tỉnh, thành. Đặc biệt, năm 2018, chỉ số xây dựng và tổ chức thực hiện VBQPPL của tỉnh đạt 66,79%, đứng gần cuối bảng xếp hạng của cả nước (62/63 tỉnh, thành)

     Những con số đó phần nào nói lên rằng nhân dân chưa thực sự được tiếp cận với những gì tốt nhất, chính quyền chưa có những bước đột phá trong cải cách hành chính để đi sát với nhân dân, lắng nghe nguyện vọng của dân và làm hài lòng dân.

     Dù đã cố gắng tăng cường đối thoại với nhân dân song đây đó trên địa bàn vẫn còn tồn tại những bức xúc, mâu thuẫn về vấn đề đất đai; Tình hình tôn giáo, an ninh trật tự còn tiềm ẩn những bất đồng, phức tạp; Nhiều cơ quan công quyền, cán bộ vẫn hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân; Đời sống của nhân dân chưa được cải thiện nhiều và đến nay, Nghệ An vẫn còn là một tỉnh nghèo so với cả nước.

     Để giải quyết tất cả những tồn tại trên cần rất nhiều nỗ lực từ chính quyền các cấp mà có lẽ quan trọng hàng đầu là chúng ta phải nhớ lại lời căn dặn của Bác trong bức thư 50 năm về trước. Cho đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị và vẫn đúng cả trong thứ tự ưu tiên thực hiện. Chúng ta phải coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu song trong quá trình đó luôn cần ghi nhớ đặt lợi ích nhân dân lên trước hết, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Trong giai đoạn niềm tin nhân dân dễ lung lay khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, tham ô, tham nhũng gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước như hiện nay, cần phải thực hiện tốt dân chủ nhân dân để tăng cường gắn kết với dân, lấy lại niềm tin trong dân. Chỉ một khi có được niềm tin của dân chúng ta mới có được tiếng nói chung, mới tạo được sự đồng thuận trong toàn bộ hệ thống chính trị để cùng chung tay thực hiện mục tiêu đề ra. Thực hiện dân chủ với nhân dân phải bằng những biện pháp thiết thực, thực chất chứ không phải hình thức, nửa vời. Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị - xã hội phải tăng cường hơn nữa vai trò giám sát, phản biện của mình, phải đứng ra để bảo đảm những quyền và lợi ích chính đáng cho người dân.

     Nghệ An đang ra sức kêu gọi, trải thảm đỏ cho các nhà đầu tư nhưng cần phải thực sự tỉnh táo. Chúng ta không nên tiếp nhận một cách ồ ạt, vì lợi nhuận mà bất chấp những hậu quả về môi trường hay làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Chỉ khi đảm bảo được điều này chúng ta mới có thể phát triển một cách bền vững.

     Cùng với phát triển kinh tế, các hoạt động chăm lo cho đời sống của nhân dân cũng cần được chú trọng hơn nữa, nhất là văn hóa. Chúng ta đang xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ nhưng đời sống văn hóa ở đây còn khá nghèo nàn. Cư dân đô thị ở đây không có nhiều hoạt động văn hóa thực sự chất lượng để lựa chọn. Nhiều hoạt động hiện nay diễn ra chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị hơn là hướng đến nhân dân. Muốn cho các chương trình văn hóa, nghệ thuật thu hút được sự quan tâm của công chúng, thiết thực, hiệu quả thì không gì khác, phải đặt mục tiêu đầu tiên là hướng đến dân, phục vụ cho đời sống của nhân dân, như Bác Hồ đã dạy.

     Là một tỉnh có tiềm năng về tự nhiên và con người với truyền thống đoàn kết, đấu tranh lâu đời, Nghệ An có đủ khao khát và khả năng trở thành một tỉnh khá nhất miền Bắc. Tin rằng nếu Đảng bộ, chính quyền tỉnh Nghệ An biết lắng nghe Dân, biết khơi gợi lên trong lòng mỗi người con xứ Nghệ niềm kiêu hãnh, tự hào, tự tôn dân tộc; Làm sống dậy trong họ tình yêu và trách nhiệm với quê hương thì mọi mục tiêu phát triển đều có thể đạt được. Bởi “Dân là nước”, dựa vào sức Dân luôn là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt!

 

 

Thứ ba, 30 Tháng 7 2019 08:37
Xem tiếp...