Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Văn hóa Nghệ An

Ngày 09 tháng 6 năm 2014, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 33 - NQ/TW Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Với 5 quan điểm, 6 nhiệm vụ, 4 giải pháp được đưa ra, Nghị quyết hướng đến mục tiêu chung là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Đến nay, sau 5 năm triển khai thực hiện, chúng ta đã thu được những thành tựu nhất định. Có thể kể đến như: hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản được chú trọng và thu nhiều kết quả khả quan; việc đầu tư nguồn lực cho văn hóa được quan tâm hơn; hoạt động ngoại giao văn hóa được đẩy mạnh; công tác gia đình, bình đẳng giới, bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em gái được triển khai rộng rãi và có nhiều chuyển biến; đời sống tinh thần của nhân dân được quan tâm,… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có nhiều tồn tại trong quá trình thực hiện dẫn đến kết quả thu được còn hạn chế, những vấn đề bất cập trong lĩnh vực văn hóa chưa thể khắc phục.

Chúng ta đặt ra nhiều mục tiêu, hướng đến những câu chuyện xa vời như nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm mỹ; xây dựng thế giới quan khoa học, xây dựng hệ giá trị chuẩn của người Việt hiện đại,… trong khi nhiều vấn đề nhức nhối, cấp thiết tồn tại trong bao nhiêu năm qua vẫn chưa được giải quyết. Trong đó, đáng nói nhất vẫn là sự xuống cấp, suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ người Việt. Đáng buồn hơn, tình trạng mất niềm tin, giảm nhiệt huyết, mất đi tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc trở nên đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Trong các cuộc họp sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết, liệu chúng ta đã đặt câu hỏi vì đâu rất nhiều người sẵn sàng từ bỏ quốc tịch của mình để tìm đến những cơ hội mới ở những quốc gia khác? Vì đâu khi một video quảng cáo hình ảnh tươi đẹp, đáng sống của Việt Nam do người nước ngoài thực hiện được đăng tải thì cộng đồng mạng lại thi nhau phản bác, phủ nhận? Vì đâu nhiều người hiện nay không cảm thấy tự hào khi là người Việt và họ luôn chỉ thấy những mặt trái, những điều không hay tồn tại trong đất nước?

Bên cạnh vấn đề con người, văn hóa và các hoạt động văn hóa vẫn chưa được chú trọng đúng mực. Dù được xác định là động lực, là nền tảng phát triển của xã hội song đầu tư cho văn hóa vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, nhận thức về tầm quan trọng thực sự của văn hóa ở nhiều người, thậm chí cả những người đang trực tiếp làm trong lĩnh vực này còn chưa đúng. Chúng ta đang phân tán nguồn lực cho những hoạt động mang tính hình thức, nhỏ nhặt, đang đồng nhất công tác văn hóa với câu chuyện “cờ, đèn, kèn trống” mà thiếu đầu tư, quan tâm cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và khai thác các giá trị. Đáng nói nhất, chúng ta chưa nhận thấy, trong thời đại hôm nay, khi các quốc gia đang tăng cường sử dụng sức mạnh mềm để gia tăng sức ảnh hưởng, vị thế của mình thì văn hóa và ngoại giao văn hóa có một vị trí cực kỳ quan trọng. Những năm qua, Trung Quốc đã nhiều lần “tấn công” chúng ta trên lĩnh vực văn hóa. Trước hết phải kể đến việc Trung Quốc tuyên bố đàn bầu là nhạc cụ dân tộc của nước này. Cùng với tuyên bố đó, họ đã âm thầm đưa đàn bầu vào giảng dạy ở các trường học, biểu diễn ở các festival nhiều năm. Khi biết thực trạng trên chúng ta mới vội vàng lập hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận đàn bầu là di sản văn hóa của người Việt. Gần đây, cộng đồng lại dậy sóng khi phim hoạt hình có hình ảnh đường lưỡi bò của Trung Quốc được chiếu ở các rạp. Mới đây nhất, áo dài, nón lá Việt Nam lại xuất hiện trong bộ sưu tập của thương hiệu Ne Tiger (Trung Quốc) tại Tuần lễ Thời trang Xuân Hè 2019 và được gọi là “phong cách Trung Quốc”. Những sự việc này xảy ra, một phần xuất phát từ chính sự lơ là của chúng ta, từ thực tế chưa nhận thức được trong thời bình, văn hóa cũng là một mặt trận hết sức quan trọng.

Để tránh sự xâm lấn trên lĩnh vực văn hóa, bảo vệ chủ quyền đất nước; để biến văn hóa thực sự trở thành sức mạnh dân tộc, đã đến lúc chúng ta phải thay đổi nhận thức và cách thức hoạt động trong lĩnh vực này. Thiết nghĩ, đó là việc quan trọng, cấp bách hàng đầu cần được nghiên cứu triển khai hơn là đề ra nhiều nghị quyết, chương trình, bộ tiêu chí về văn hóa chung chung, xa rời thực tế như hiện nay.

 

V. Bình điểm một số truyện cụ thể

Tứ tử trình làng! Chúng ta sẽ dùng cách tìm hiểu thực địa (gần giống phương pháp “Case study” trong y khoa) qua 4 trường hợp mà đa số được viết theo lối mới trong hướng sáng tác của tác giả: Lời nguyện nửa khuya; Cái vú thừa; Cuộc đời bắt nạt;bt.

Điểm chung về hình thức, cấu trúc truyện là không còn theo lối trần thuật chân chỉ; và dung lượng rất ngắn, như một tiểu phẩm, trên dưới 4 trang sách khổ nhỏ.

Yếu tố thi pháp chung ở 4 truyện này là hình thái ngụ ngôn được đông đặc; dường như nhà văn đã thông tỏ châm ngôn để đời của Vua hề Sác-lô/ Charlie Chaplin: "Trò đùa phải chấm dứt khi nó thành công nhất". Văn lệnh như sơn: Ngắn!

LỜI NGUYỆN NỬA KHUYA[1]    

• Bút pháp cổ trang (“cổ văn” được tân trang/hiện đại về hiện thực lẫn ngôn ngữ) tỏ ra hết sức nhuần nhụy. Tin là các độc giả ruột của tác giả sẽ ngỡ ngàng với sáng tác đầu tiên phá rào từ bút pháp hiện thực thuần túy (sau Dâng hiến - một truyện chưa hay, có phần nào dễ dãi). Thành công không hẳn đến từ tay nghề. (Xét về dẫn truyện còn có vẻ kém cơ hơn các truyện hay ở bút pháp cũ - Mùi thiên đàng; Kiếp chó). Mà từ “đổi mới tư duy”. Một tư duy khác về nghệ thuật truyện ngắn. Ngay khi đọc lần đầu, Người bình điểm đã kịp chúc tác giả ráng kéo thành vệt “văn cổ trang made by McA NTT”. (Hên, quả nhiên, nhân bảo gần được như thần bảo!)

• Thủ pháp phúng dụ được “xài xể” quá chăng? Tác giả hóa thân? Ưu: truyện lôi cuốn và đau đời mà vẫn nhi nhiên như "C'est la vie!" Mạch chuyện nhuyễn như tương bần chảy ra chỉ trong hơn 6 trang sách. Nhược: với độc giả không rành "nhân thân” tác giả, nhiều chi tiết có vẻ khó hiểu.

• Nội dung tư tưởng không mới song rất lạ và cực hay! Chỉ gỏn gọn trong vuông tay các vấn đề gia đình, giải phóng phụ nữ, hôn nhân, tình ái quyện chặt vào vấn nạn chung của loài người hiện đại, cũng như của một “vương quốc” [[2]] (có thể hiểu đó là Canada).

• Ngôn ngữ pha trộn nhịp nhàng giữa hiện thực, lãng mạn và hài hước. Chất thơ mênh mang.

•  Vài chi tiết:

- Rất thành công ở hình tượng yoga, vừa ẩn vừa hiện. Ẩn: Làm cho sinh hoạt chính trong “vương quốc” thêm huyền bí, độc đáo. Hiện: Không phải bạn đọc bình thường nào cũng đoán ra. Vậy lại hóa hay. Nó giảm bớt tính riêng tư của truyện mà những độc giả quen biết tác giả lại thiệt thòi khi không nhận ra cái lung linh của ẩn dụ văn học.

- Trạng huống "ly hôn" là điểm sáng, là tứ truyện; nhưng trong khung cảnh này trở nên thế tục và, thiển ý, khá tầm thường, không tương xứng nhân vật "Ngài" - một đế vương ắt xa lạ với cái sự ly hôn phàm trần. Đau ở chỗ với nhân vật "Em" thì quan trọng, là cả cuộc đời. Gợi ý: Nên chăng nâng vụ "ly hôn" thành vấn đề khác cho lạ, ảo hơn. Tức là thêm chừng hơn một trang nữa, tứ truyện sẽ nở tiếp?

- "Vương quốc của Ngài là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề của thế giới”;“duy nhất trên địa cầu là lời giải đáp cho tất cả vấn nạn thể xác và tâm linh.” Phải đấy, Vùng đất hứa - Xứ sở Lá phong của chúng tôi, còn đâu khác được! 

- "Ánh sáng xanh”: Ẩn dụ tốt; chắc là rất riêng tư nên hơi khó hiểu. Mà cũng khỏi cần hiểu hết. Truyện ngụ ngôn vốn có chất thơ. Nào ai hiểu thơ là gì?

- Lặp lại 2 lần cụm câu"Em đứng trên đầu. Em đứng [...] trở thành một thây ma.”: Đẹp mượt mà và nhịp nhàng. Như chính các động tác yoga.

- Đưa vụ con gián vào kỹ vậy (dù khá vui và đau!) liệu làm chia trí độc giả không ta? Sở trường “bồi bổ tri thức” của tác giả với truyện cô đọng có thể thành sở đoản đó à nha...

Đây là một truyện-ngắn-khó. Được dùng làm mở cho tập truyện mới, bạn đọc hiểu “ý trung nhân” chứ ạ?

CÁI VÚ THỪA[3]       

Ở các phần trên đã gióng đôi ba lời về vai trò và ý nghĩa của thiên truyện quan trọng nhất này. Xin tiếp tục...

• Viết về “cái vú”, bao nhiêu cũng là thừa. Đã có vô vàn tác phẩm văn học Việt và quốc tế từng chọn bộ phận nữ tính quan yếu nhất nhì của người nữ, người mẹ làm chủ đề. Và hẳn không tác giả nào không động đến tính chất “nguồn nuôi” loài người của nó. Người bình điểm vững tin chưa có truyện nào sâu (thẳm) và độc (đáo) như truyện của nữ văn sĩ McA NTT. Dám nghĩ, nếu có một tuyển truyện viết về “cái vú” của văn chương ở nhiều ngôn ngữ, Cái vú thừa tiếng Việt - ắt là trúng tuyển rồi! - sẽ có cơ được trong danh sách chọn làm tên sách!

• Tên của truyện ngắn, kinh điển và hút hồn! Không thể khác hơn. Nữ nhà văn tỏ ra sành đặt tên những đứa con của mình, và Cái vú thừa đắt nhất. (Đắt nhì, đố bạn truyện gì? Chưa đoán ra, vài phút nữa sẽ biết!)

• Gói trong 1271 từ là một tạng truyện ngắn mà suốt đời viết của một tác giả chỉ được vài ba cái. (Chúa không thể hào phóng!) Như chén máu và nước mắt cô lại. Không là người nặng khổ đau nhiều dằn vặt, khó “bịa” ra nổi “truyện bịa hạng nhất” (L. Fisk) này.

• Tay bút nữ viết về nhân vật “Tôi” nam giới thì đầy nhóc làng văn, và chính McA NTT cũng nhiều lần “giả giai” ngon lành. Lần này, giai đẹp Số 1!

 • Ngôn ngữ và lối kể: “Một lần đi đường tôi sơ ý đánh rớt tên mình.” Câu mở đầu đạt mức “bậc thày”. Cùng với tên truyện, nó nhẹ nhàng áp tải bạn đọc nhập vào phong cách ảo dị. Hơi tiếc, vấp ngay tới một đoạn diễn lại ngụ ngôn, khá khô và hơi dài, xa lạ với truyện hư cấu. Phần thân truyện trong gần 700 từ đi suốt cả chục biến cố vùi dập đời người, đời trai, đời làm con làm chồng làm cha… mà vẫn liền lạc tư duy truyện ngắn. Nhờ cách kể trôi chảy, bình dị nhưng mang nỗi đau ngàn cân.

Cốt lõi truyện là các hư cấu phản biện Kinh thánh: "Sáng Thế Ký viết sai. Ta không tạo Ađam trước. Ta tạo Eva, để cai quản muôn loài. Được mấy ngày thì Eva than phiền phần ngực nặng, đi lại thấy vướng. Lúc đó Eva có ba vú. [...] Ta xẻo cái vú ở giữa vứt vào bụi cây gần đó. [...] Ta bèn nhớ ra cái vú vô dụng vứt vào bụi rậm bữa nọ. Ta lôi ra, thổi vào nó một linh hồn, thành Ađam.” Một tái sáng tạo lớn lao và kinh dị! Của nữ văn sĩ McA NTT. Nội vụ này đủ mọi yếu tố làm nên tất cả, cho một truyện ngắn độc đáo.

•Góp ý quan trọng: Trong một dung lượng quá eo hẹp đã dồn nén 3 biểu tượng, cái nào cũng từ nhớn đến khủng: Cá nhân bị vô danh tính - “mất tên”; Quả báo cha con với sợi dây con trói cha; Nguồn gốc giới tính nam-nữ với Eva có ba vú. Hai biểu tượng đầu và cuối đủ thành tứ truyện quá ngon rùi. Ngu ý của kẻ bình điểm: rút ngắn vụ “sợi dây hoặc có thể... cắt béng đi! Về nội dung, quan hệ phụ tử khá xa với tư tưởng truyện. Vụ này lại an tọa ngay ở đoạn thứ nhì và “tốn” đến 150 từ. Hơi dài so với dung lượng toàn truyện, cũng như với đoạn Eva ba vú. Về mặt tự sự, đoạn “sợi dây” hệt như trích từ nguồn ngụ ngôn quen thuộc, thay vì ít dòng người đọc cũng đủ hình dung. Làm giảm văn phong hư cấu đang rất bất ngờ với các dòng đầu tiên và sau đó. Vì sao? Vì truyện “bằng bàn tay” mà ôm những giai thoại khổng lồ thì tính văn chương của toàn truyện sẽ giảm, dẫn đến cái dở là chất ngụ ngôn đậm quá. Trong khi ở Lời nguyện nửa khuya dù độ phúng dụ cao, chỉ khiến hơi khó hiểu chứ không làm nặng mức độ giáo huấn. “Đại sư phụ” Franz Kafka đã nêu nhiều tấm gương cô đọng các ý tưởng kinh dị (người biến thành con côn trùng, hay cái vô hạn của thời gian đi sang làng bên) giúp cho chất hư cấu được làm chủ toàn bộ truyện ngắn. Nếu còn ham tiếc “sợi dây”, nên chăng mở rộng không gian câu chuyện sao cho giữ được ý đồ chính của tình huống: từ việc bị mất tên dẫn đến biết được nguồn gốc đàn ông là từ cái vú dư của phụ nữ.

•Tóm, Cái vú thừa là truyện "bất bình thường", về thi pháp cũng như nội dung, tư tưởng, không chỉ với văn chương McA NTT mà cả trên nền truyện ngắn đương đại. Tiếp sau Lời nguyện nửa khuya, nó xác quyết một hướng viết mới cho tác giả. Vượt xa hiện thực kể chuyện thuần túy; chiếm lĩnh nghệ thuật kỳ ảo và phi thực.

CUỘC ĐỜI BẮT NẠT[4]

• Trong lối viết trần thuật hiện thực, so với chính tác giả, cái mới nhất ở đây là cấu tứ truyện theo kiểu phân mảnh/đồng bộ/bình đẳng. Một chiêu mà khá nhiều tác giả khác đã dùng và mỗi vị thường chỉ xài một đôi lần. Cũng có thể gọi là motif “tham quan". Qua 7 chân dung phụ cùng một chân dung chính là “Gã”, ta có 8 nhân vật cùng làm nên nhân vật chung là Cuộc đời. Nó giải thích chính xác cho vài phần trong tên bài khảo luận: Ngụ ngôn giữa đời thường Canada. Nghệ thuật tạo truyện ở Cuộc đời bắt nạt là minh họa cho một ý đồ lộ tỏ (biến tướng nhẹ hều của truyện định đề), nên nếu không cao thủ thì chỉ sau vài nhân vật, độc giả sẽ dễ thấy nhàm, nhảy cóc xuống đoạn kết cho thỏa tò mò. Một số kỹ thuật điện ảnh (lắp ghép, chuyển đoạn), kịch thoại được sử dụng tài tình.

• Bút pháp tung tẩy về chi tiết thường nhật, tung hoành về mảng miếng đời sống, xã hội Bắc Mỹ vốn là át chủ bài của nữ văn sĩ. Dàn dựng chắc lẳn về dung lượng, với 2883 từ vừa đủ đọc một hơi. Câu mở “Tòa nhà có hai tầng, mỗi tầng có bốn căn hộ. Gã ở căn xoàng nhất tầng dưới. Một buổi tối gã đi gõ cửa từng căn”, dẫn bạn đến mỗi nhân vật và phải tới đoạn cuối mới túm cái rụp được "sợi chỉ hồng" của tác phẩm: đủ thấy tay nghề kiến trúc truyện ngắn cao dường nào! “Mọi người trong các căn hộ không để ý đến việc gã gõ cửa đòi tiền nhà.” Thoạt tiên“bà họa sĩ độc thân tuổi tứ tuần” rồi“Viên thượng úy cảnh sát”, tới“Cặp vợ chồng Nhân Chứng Giê-hô-va”, qua những là “chàng nghệ sĩ guitar tài ba chửa gặp thời”, “cô gái làm nghề pha rượu cho một quán bar”, “cô du học sinh” (“đầu đen”, vẻ như con cháu Bà Trưng Bà Triệu Vua Hùng phe ta?),cuối chót là cả“Ngài chánh án sống trong căn hộ rộng và sang trọng”. Tất cả đồng thanh nhất trí “xù đểu” một món tiền sinh sống tối thiểu. Cả xã hội quay lưng phá hủy khế ước sống bình thường với một kẻ cô đơn và ấm ớ.

• Thêm một lần tít truyện được thăng hoa. Sau 2 chữ "cuộc đời" nhàm như... cuộc đời, là 2 chữ "bắt nạt" rất tầm phào, nhưng Cuộc đời bắt nạt thì thành văn rồi! 

• Toàn truyện được chăm sóc tốt bởi phong vị hài hước, nên không thể dài như một truyện bình thường. Sở trường humor trong bất kỳ sáng tác nào cũng phảng phất nay được thỏa chí tang bồng. Cũng vậy với các thủ thuật phóng đại, thậm xưng. "Thảo nào George Bernard Shaw khẳng định chỉ có hai phần trăm loài người tư duy, ba phần trăm nghĩ rằng họ tư duy, và chín mươi lăm phần trăm thà chết còn hơn tư duy." Hóm đến thế là cùng!

• Lời thoại đan xen và thoại gián tiếp đều bất ngờ, linh hoạt. Còn có chỗ chưa kỹ về diễn ngôn, như đoạn cuối phần “Ngài chánh án” không khá hơn một góc báo bình thường là bao.

• Một tiểu cẩm nang náo hoạt về đời sống Canada! Trong bút lực điêu luyện, trường vốn về thông tin xã hội, kiến thức về nước sở tại của nhà văn được phất vun vút. Mỗi ý nghĩ, chi tiết, câu nói tung ra như những lưỡi dao bọc đường. Độc giả nào ở các xứ khác đang chờ di dân sẽ nắm bắt nhanh và chuẩn về hồn vía cuộc sống các xứ Canada, Hoa Kỳ được hài hước hóa chỉ trong truyện-ngắn-bàn-tay. Riêng với Người bình điểm, thú thiệt, cũng vơ thêm mớ ba mớ bảy cách ứng xử của dân chính hiệu Ca Na Điên, ít nhất trong vụ tiền nhà. Hi hi...

bt[5]

Cần nói ngay, btkhông viết hoa và không chữ in, khác cách trình bày cho 3 tên truyện “bình thường” ở trên. bt, “em” phải được hiện diện như nguyên bản của chị McA NTT, nhé? [[6]].

Nhiều ý lời đáng kể đã được thưa từ các phần trên. Giờ minh họa tiếp:

• Giữa nền văn học Việt đương đại, đây là sáng tác có thể nói rất đặc biệt về đề tài - nội dung hậu chiến, xuất sắc về hình tượng nghệ thuật thể hiện, sang chấn về triết lý hiện sinh, và sáng chói về nhân văn - nhân tính. Một cây bút phải được/bị những gì để có thể “đẻ” nổi tác phẩm vẹn toàn đến vậy? Nếu “bị” thì đời ơi, sao nhẫn tâm hành hạ để chữ nghĩa phải thét lên đến thế? Giá như bt ra đời từ thời hậu Đổi mới, sẽ có cơ trở thành một “con dấu” của dòng văn chương hậu chiến tranh, nhánh “văn chương chấn thương". (Chứ thời Đổi mới 1986 - 1992 ắt hẳn không chịu loại truyện này đâu).

• Trên con đường văn học của tác giả hơn 30 năm qua, bt là thành tựu nhất về mọi mặt (nội dung, hình thức, thi pháp; và hơn cả là ý nghĩa “máu thịt” của nó). Chịu thai nghén 40 năm, thiên truyện ngắn vỏn vẹn 1415 từ mà ôm vẹn nỗi đau đớn của giống người, đại diện qua người phụ nữ Việt như một địa chỉ bị giằng xé bởi chiến tranh tương tàn Việt Nam giữa hai ý thức hệ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới trong thế kỷ 20.

• Chúng tôi đọc đi đọc lại, kể như không gặp hạt sạn nào về kỹ xảo hành văn. Mỗi từ, câu, đoạn như dán như đóng vào trang viết. Tuyệt vời thay tên truyện:bt!Tưởng trong đại hải từ vựng Việt và nhân loại không còn lựa chọn nào khác. Hai con chữ bt vốn bình-thường, thế rồi trong ghép đôi bởi “bàn tay phù thủy” McA NTT, từ nay các “con” đã hóa nên một mà nhuốm trong máu thịt Mẹ loài người. Đã được sống như những thành phần của văn học.

• Hai bông hồng dành cho nghệ thuật tạo truyện:

a. Nữ nhà văn của bạn đã dùng tối đa và tài ba quan niệm "viết bằng cơ phận" của lý thuyết văn học nữ: Chủ đề “thấy tháng” và hệ quả nhi nhiên của nó đương nhiên được “thấy” vô cùng là thường xuyên trong văn chương. Nói thẳng tưng mà hồn nhiên như Thế Uyên: “Dĩ nhiên kinh nguyệt không còn là vấn đề kín của các cô các bà xì xào với nhau trong một góc phòng nữa, và trong văn chương nữ giới, kinh nguyệt xuất hiện một cách tự nhiên như trời xanh mây trắng.” (Tình dục và các nhà văn nữ di dân Việt Nam, Hợp Lưu số 81, 2005; Lê Thị Thấm Vân nhìn từ Thế Uyên,vanviet.info 8/7/2019). Nhưng vụ này thường chỉ làm chi tiết, mạnh chút nữa trở thành tình huống truyện. Ở bt nỗi đau ngàn đời đó không chỉ được nâng lên làm đề tài mà về thi pháp, nó trở thành hình tượng phúng dụ, thành tứ truyện, thành hệ thống nhân vật. Nhân vật “Tôi” là âm đạo, cũng từng có trong nhiều, rất nhiều tác phẩm "viết bằng thân thể", “viết về thân xác” theo nghĩa đen (phô diễn khoái lạc dục vọng) lẫn nghĩa bóng (dùng cơ quan sinh dục như đối tượng nghệ thuật). Với văn học Việt, ở hải ngoại 15-20 năm trước từng thành cao trào, còn ở trong nước hơn thập niên nay cũng là… chuyện nhỏ [[7]]. Nhưng nhập vai, theo nghĩa bóng, một cách đau đớn, uất hận mà tự nhiên nhi nhiên nhưbt chắc chỉ có bt?Với bt, khuynh hướng "viết bằng cơ phận"/bằng hệ sinh dục đang có thêm một mẫu mực dưới sự chỉ đạo đồng thời của 2 quan niệm kinh điển "viết bằng đầu” và “viết bằng trái tim”.

b. Đây vẫn là một tác phẩm văn chương bằng tiếng Việt hay và độc đáo, song sẽ chưa đẹp (tức là chưa hoàn hảo với cặp đôi nội dung tư tưởng - ý nghĩa nghệ thuật), nếu như tác giả để đôi ba câu chữ về địa danh, danh tính nhân vật, sự kiện, thời điểm mà qua đó “tiết lộ” hiện thực lịch sử (dù đã hư cấu hóa). Nó sẽ chưa hoàn hảo, hoặc là bởi tầm đón nhận của độc giả Việt vốn quen chính trị hóa, cụ thể hóa mọi vấn đề, chi tiết; hoặc tại vì các thực tế đời thường (tỷ như: thành phố Kimmonton đông lạnh 43 độ âm ngày 9/9/2018; Vốn người gốc Trung Hoa tướng Lucas ham đánh chiếm biển đảo; Bác sĩ tim mạch Trần Huấn Tú Chi hoa khôi Sài Thành, v.v… và v.v…) sẽ không ngang cơ về diễn ngôn nghệ thuật với thế giới ẩn dụ, phiếm chỉ của nhân vật “Tôi”. Càng nhiều yếu tố phiếm chỉ,bt sẽ càng được thăng hoa thành câu chuyệntrần đời từ các chuyện của một cá nhân, của một đất nước, của một dân tộc, gọi chung là của một thời cuộc - nó, cái thời cuộc vốn là hậu quả tức tưởi từ cuộc chiến tranh dai dẳng và tàn khốc hàng đầu trong lịch sử nước Nam ta mà vấn đề người-Việt-hải-ngoại trong 44 năm qua vẫn đang là đứa con đầu lòng và khốn khổ khốn nạn nhất của Mẹ Việt Nam! Cũng vào một mùa Xuân, như khi những dòng chữ đây đang tìm đến nơi lòng bạn đọc...

Chúng ta thử lọc ra các đối tượng chính được mô tả (từ khóa), nhờ đó có thông tin về “thực tế” trong thiên truyện ảo dị pha hiện thực. Và nếu chỉ theo các chữ nghĩa độc lập sau đây, các bạn đọc khách quan sẽ không dễ đoán ra truyện xảy ra ở đâu (quốc gia, vùng miền) và sự kiện gì liên quan - tức là bt ẩn dụ tuyệt đối về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Theo thứ tự từ đầu đến cuối truyện: “mảnh kính vỡ”,hạt Mân Côi”, “trường dòng”, “nàng”, "bác sĩ", “thẩm phán”, “giọt máu”, “mười ba tuổi”, “bốn mươi năm”, “kinh nguyệt”, “đại học”, "kẻ ngoại lai, “dân nhập cư”, “vùng miền xa lạ", "nhóm sinh viên cùng lãnh thổ”, "đi đạo", "cave", “cha cố”, "gái vùng tạm chiếm", "lính ngoại bang”, "lãnh đạo nhóm", "ký túc xá", "phòng y tế", "vệ binh", "dây thừng trâu"; “mẹ”, “ba”, "tay sai"; "bọn ngoại xâm”, “chiếc kẹp mỏ vịt”, “bếp mai-xo” “sổ khám bệnh”, “tiếng khóc”, “ly hôn”, “kẻ ngoại nhóm”; cuối cùng và quan trọng là“tấm gương”.

Tính nhân văn cao cả (có phần nhẫn nhịn) nơi người phụ nữ Việt đã khiến nữ tác giả kìm bút nén nỗi đau thân thể của cá nhân (nhân vật “Tôi” “Nàng”) chìm trong bất hạnh chính trị của dân tộc. Công lao đó là nhờ toàn bộ 1415 con chữ được bảo bọc bằng ẩn dụ cực kỳ tế vi mà không kém phần dữ dằn. Nữ tính, nghệ thuật và nhân văn. Yếu tính nhân văn có thể thấy ở toàn truyện. Rõ nhất, nhân văn (mà không nhân nhượng) ở đoạn kết với 2 câu: “Nàng cứ kể với tôi về những giấc mơ có lại tấm gương lành lặn.”,và “Nàng vẫn ngày ngày ra sức chứng minh mình với họ, những con người luôn xem nàng là kẻ ngoại nhóm.” Nhưng - chữ Nhưng làm nên tất cả - thứ tự đảo lại: Câu đầu vừa trích dẫn mới là câu kết của toàn truyện. Dạ vâng, cuối cùng thì người nữ, sau nửa thế kỷ đớn đau và oan uất vẫn không thể quên phận “kẻ ngoại nhóm”. Tất nhiên! Nhưng nhớ không để oán hận mà để thủ thỉ cùng “em bé” của mình hướng tới một tương lai tốt lành cho cả hai, dù biết là không thể nào hết còn bị đau nỗi-đau-hàng-tháng.

bt là một thiên truyện rất khác thường về thẩm mỹ văn chương, có phần dị thường về nghệ thuật dựng truyện, và phải nói là “phi thường” về nỗi đau thời cuộc - chính trị. Nếu chỉ có thế, nó sẽ thuộc loại được nâng cấp của văn chương chống chiến tranh, văn chương phản kháng các xung đột hệ tư tưởng. Không, với đức độ nhân bản của mình, bt đã là một văn phẩm hay một cách đau thương và đẹp một cách bình thản. Tự nhiên nhi nhiên như nỗi đau khi dai dẳng lúc xé toang mà Tạo hóa dành Người nữ - nguồn sinh nhân loại.

Nàng nằm tênh hênh. [...] Mẹ ơi… Ba ơi… Nàng gào lên, đôi chân trơ trụi cố giãy giụa trong vô vọng. Hình ảnh ba nàng trước lúc bị xử bắn giữa một sân trường tiểu học. [...] Hai tay bị trói quặt vào cái cọc đằng sau. Cũng dây thừng trâu. Mẹ nàng ngã quỵ xuống cạnh chân nàng… [...] Hai đùi nàng bất ngờ bị giạng toác ra. [...] Lần đầu tiên trong đời, tôi bị phơi bày lộ liễu. [...] Nàng rú lên như con lợn bị thọc tiết. Chiếc mỏ vịt thô bạo và các thứ kìm kéo hành hung tôi. [...] Tôi không còn nghe tiếng kêu la của nàng. Nàng hình như đã chết.” [[8]]

TẠM KẾT

1.

Chúng ta đã đi một vòng trên mặt-phẳng-văn-chương McAmmond Nguyen Thi Tu trong hơn thập niên qua, mà độ sung mãn vào các năm 2006 - 2010 ở phong cách trần thuật truyền thống, để rồi mới hơn một năm nay 2018 - 2019 khi chuyển hẳn sang lối viết phúng dụ ảo dị. Cả 2 lối viết đều có thể xem như 2 diễn ngôn khác nhau của hình thức ngụ ngôn - ngụ ngôn gián tiếp từ chuyện cuộc đời, mưu sinhngụ ngôn trực tiếp qua bản thể, nhân sinh.

Còn một số chủ đề cần thiết và thú vị qua chúng sẽ có thể nói thêm nhiều về đặc trưng nghệ thuật văn xuôi của nhà viết truyện mà chúng tôi chưa đủ thời gian và tư liệu. Đó là: Dụng công cho mở đầu và kết thúc truyện; Quan hệ về điểm nhìn giữa nhân vật Tôi với các nhân vật khác; Sự kết hợp giữa chất ảo dị với hình thức phúng dụ cổ điển; Súc vật, thú (chó, mèo, sói) trong tư cách nhân vật văn học và ý nghĩa nhân sinh; Một vài yếu tố tiểu thuyết (giọng điệu, tình tiết, không-thời gian) trong truyện ngắn; Và, quan trọng, về các sáng tác ở giai đoạn đầu, tại Việt Nam (1985 - 1991) cho đến khi trở thành nhà văn di dân.

2.

Ngay từ đầu thế kỷ 19, thiên tài J.W. Goethe từng nhận ra manh nha của hiện thực trong 2 thế kỷ kế tiếp: “Ngày nay văn chương quốc gia không còn có thể nói lên điều gì quan trọng nữa, thời đại của văn chương thế giới đã đến, và mỗi người bây giờ phải hành động để đạt tới tiến trình ấy” [[9]].

Các trào lưu di dân đã góp phần lớn cho sự hình thành, thúc đẩy một nền văn-chương-thế-giới. Nhưng văn-chương-di-dân chưa thể thành văn-chương-thế-giới khi mà nó thường chỉ thành công ở 2 yếu tố quan trọng nhưng khá dễ dàng, đó là ý nghĩa đề tài và nội dung tư tưởng. Cần có thêm hình thức sáng tạo và thẩm mỹ văn học tương xứng - tức là hội đủ 4 tiêu chí của sáng tạo nghệ thuật thông thường. Nếu như ở cả 4 tiêu chí vẫn chưa hiện diện không-gian-nghệ-thuật của toàn cầu thì nó, cái văn chương di dân ấy bước đầu chỉ là văn-chương-quốc-gia nối dài; tất nhiên về mặt này điểm kia đã được tăng trưởng cả về phẩm lẫn chất (đáng kể là với những dòng văn học đến từ các quốc gia đang phát triển).

Để kết thúc, hãy trở lại tiêu điểm của khảo luận. Truyện ngắn McAmmond Nguyen Thi Tu, cũng như đa số các sáng tác tương tự của văn học Việt hải ngoại mang nội dung cuộc sống di dân, trên căn bản là văn-chương-di-dân mà yếu tố quốc gia xuất xứ là Việt Nam và tinh thần dân tộc Việt còn bị nhiều ràng buộc từ duyên đến nợ, từ nghiệp đến phận. Nói chung, các liên đới về tinh thần và địa lý, chính trị và văn hóa, trách nhiệm con dân Việt và ý thức công dân bản địa... đã ảnh hưởng “âm” đến tài năng tự thân nơi mỗi tác giả [[10]].

Đến đây có thể kết luận: Sau một thời gian dài tuân thủ thành công thi pháp trần thuật chuẩn mực, truyện ngắn McAmmond Nguyen Thi Tu đang đạt đến độ kết tụ về thể thức ngụ ngôn và thăng hoa về hiện thực đời thường trong 3 đề tài lưu xứ, bản ngã và giới tính, được thể hiện qua người Việt di cư tại Canada. Đó là nhờ sự độc đáo ở phong cách phúng dụ và ảo dị trong một vài sáng tác xuất sắc như bt, Cái vú thừa, Lời nguyện nửa khuya…

Hướng tới đích lý tưởng văn-chương-thế-giới, từ đấy, nữ văn sĩ dễ có cơ hội tạo ra không-gian-văn-chương của riêng mình made by McAmmond Nguyen Thi Tu.

 

Vancouver, xuân 2018 - 2019 (hoàn thành 1/4/2019 - tu chỉnh 3/11/2019)   

Đỗ Quyên

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO       

 

1. Rushdie, Salman; “Ảnh hưởng, Nguyễn Quốc Trụ chuyển ngữ, trangngaunhien.wordpress.com 5/3/2019.

2. Đỗ Quyên;“Văn học Việt ở ngoài nước trong các năm 2005-2010”, vanchuongviet.org 5/7/2010.

3. Khánh Phương; “Văn chương Việt hết năm 2010, một thập kỷ vẫn... “chờ” thành tựu”, chungta.com 15/2/2011.

4. Thành Nam; “Hòa hợp dân tộc và sự phát triển văn học”, nhandan.com.vn 29/6/2016.

5. Lê Tú Anh; “Con người dấn thân trong văn xuôi đề tài tha hương đầu thế kỉ XXI”, vannghequandoi.com.vn 10/8/2019.

6. Lê Tú Anh; “Con thuyền của Nam Lê giữa hai bờ dân tộc và nhân loại”, vannghequandoi.com.vn 31/1/2019.

7. Quan niệm về truyện ngắn của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, thcsvanlang.pgdviettri.edu.vn 8/11/2013.   

8. Bùi Việt Thắng; “Tin vào truyện ngắn”, vanhien.vn 14/2/2019.        

9. ”Phê bình Văn học nữ quyền”, tiasang.com.vn 5/3/2009.

10. Nguyễn Đăng Điệp; “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, phebinhvanhoc.com.vn 20/4/2013.

11. Liễu Trương; “Viết với thân xác như Túy Hồng”, lieutruongvietvadoc.wordpress.com 31/5/2017.

12.Hà Văn Lưỡng; “Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Haruki Murakami - từ góc nhìn tự sự học”, tapchisonghuong.com.vn 22/5/2015.

13. Đỗ Quyên; “Rất nhiều điều về Tiểu-thuyết-Đặng-Thân”, vanhoanghean.com.vn 12/1/2012.

14. Rusakova, O.F.; “Các lý thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệm phân loại” - 2006, Lã Nguyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga, khoavanhue.husc.edu.vn - 2017.

15. Huỳnh Trọng Khang; “Thân phận người ly hương trong tác phẩm của những nhà văn châu Á”, nld.com.vn 15/6/2019.

16. Trần Hữu Thục; “Đi tìm vài góc khuất trong văn chương Trần Thị NgH”, damau.org 19/7/2019.

 

CHÚ THÍCH

[1] X. Cái vú thừa; Sđd, Tr.7-13. Cũng có thể coi trên các mạng trangngaunhien.wordpress.com 12/12/2018, Giai phẩm Xuân 2018diendan.org; và tại yogainfo.cacó tam ngữ Việt, Anh, Tây Ban Nha.

[2] Phần V này, những câu chữ in nghiêng và trong ngoặc kép là trích từ mỗi truyện ngắn đang được bình.

[3] X. Cái vú thừa; Sđd; Tr.77-80. Có thể coi trên các trang mạng baovannghe.com.vn 17/10/2018, damau.org 17/4/2018, trangngaunhien.wordpress.com 24/1/2019.

[4] X. Cái vú thừa; Sđd, Tr.209-216. Có thể coi trên các trang mạng:  trangngaunhien.wordpress.com 17/12/2018, Giai phẩm Xuân 2018 diendan.org.

[5] X. các Chú thích 11, 31.

[6]  Người viết vô tình nhận ra 2 ấn bản trên mạng (Ct 11) cũng trình bày như vậy!

[7] Xem thêm:Đỗ Quyên; “Đẻ Sách – Chương 5: Độc giả ăn tác giả - Thư của độc giả Do Ngoc gửi tác giả Đẻ Sách”, vanviet.info 9/7/2019; trích tiểu thuyết Đẻ Sách, Nxb Người Việt Books 2018, Tr.262-265.

[8] Riêng với bt, tính cả những đoạn bàn luận lẻ ở các phần trước, Người bình điểm đã cố gắng dùng số lượng chữ “ngang cơ” với chính truyện.

[9 ]X.Ct 26.

[10 ]Chúng ta đang xét phạm vi văn học của người Việt, trước hết bằng tiếng Việt, ở ngoài đất nước Việt Nam, song có thể nói rõ thêm:

a) Thành tựu lớn hay nhỏ trong văn học - nghệ thuật cũng gần như với khoa học xã hội - nhân văn nói chung, khác với các lãnh vực khoa học tự nhiên - kỹ thuật, thường chịu ảnh hưởng nhất định dù không hề bị quyết định bởi môi trường xã hội - chính trị sinh sống, làm việc; đặc biệt về việc vị trí bàn viết và tư thế nhà văn ở ngoài hay trong đất nước và hệ thống chính trị. Thậm chí, thiển nghĩ, với các tác giả văn nghệ Việt Nam, khi “ở xa Tổ quốc” trong mọi lý do khác nhau, thì ít người thành đạt hơn khi còn ở trong nước; với những người bắt đầu viết sau khi ra đi có thể còn khó so sánh hơn, song cũng hiếm thấy văn-thi sĩ người Việt nào như thế xuất hiện như là tác giả lớn trên trường quốc tế;

b) Bên cạnh năng lực cá nhân, nhờ thuận lợi về ngôn ngữ, văn hóa, và cả vị thế quốc gia, những tác giả di dân đến từ các “cường quốc” rõ ràng là dễ thành đạt hơn.

c) Vì thế, dễ hiểu là các tác giả lớn, chỉ sống và viết ở trong Tổ quốc của mình đã dự phần làm nên nền văn học dân tộc bằng chính các tác phẩm “văn chương quốc gia” đạt tầm văn-chương-thế-giới. Cổ kim Đông Tây, không ngoại lệ! Cả nghĩ, ở các nước đang phát triển trong mỗi thời kỳ văn học 20-30 năm, bù đi sớt lại, mỗi thế hệ văn thi sĩ “quốc gia” chỉ có chừng đôi ba tác giả mang “kích thước trái đất” (chữ của ký giả Nga I. Zisman từng nói về họa sĩ Chóe), và cả nền văn học dân tộc có thêm chừng năm bảy tác phẩm văn-chương-thế-giới.

Đây là một chủ đề sâu rộng, kết hợp 3 yếu tố không dễ tách rời: văn chương quốc gia, văn chương di dân, và văn chương thế giới. Chúng tôi sẽ trở lại khi có dịp...

 

 Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Ban Chấp hành Công đoàn, Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQGHN và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:

CÁO PHÓ

Thứ năm, 08 Tháng 8 2019 19:24 Chuyên mục: Tin tức

 Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Ban Chấp hành Công đoàn, Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQGHN và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:

Giao ban công tác Tuyên giáo cụm 3 tại TX Thái Hòa, Nghệ An

I. Từ những kinh nghiệm tuyên truyền của cụ Phan Bội Châu

   Trong thế kỷ 20, trước Nguyễn Ái Quốc thì Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại, là ngôi sao sáng nhất trong bầu trời cách mạng Việt Nam. Trước hết, cụ là một tấm gương sáng về tuyên truyền cách mạng. Với lòng yêu nước cháy bỏng, năm lên 17 tuổi (1884), Phan Bội Châu đã viết bài hịch “Bình Tây Thu Bắc”, làm phong phú thêm bộ hịch chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Và, cùng với bài hịch “Bình Tây sát tả”(1874) của các trí thức người Nghệ hồi bấy giờ, “Bình Tây Thu Bắc” đã giấy lên một phong trào chống giặc Pháp xâm lược trên quê hương ông và khắp đất nước ta. Điều đó, khẳng định rằng, khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than của cụ Phan là vô cùng to lớn. Là một nhà hoạt động thực tiễn phong phú và giàu năng lực tư duy, lại được tiếp thu nhiều kinh nghiệm tuyên truyền, trong đó có hình thức tuyên truyền bằng thơ, văn từ các bậc tiền bối cách mạng ngoài nước, như Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) và một số chính khách Nhật Bản tại Cô bê - Hoành Tân (Ykohama), Nhật Bản hồi tháng 2 năm 1905, Phan Bội Châu càng nuôi chí lớn cứu nước. Trước hết, Cụ lấy thơ ca để tuyên truyền cách mạng, trong đó có những bài thơ viết bằng máu của mình (Huyết tâm thư) gửi đồng bào ta. Thơ văn của cụ đã khơi dậy mạnh mẽ phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược nước ta vào đầu thế kỷ 20, tiêu biểu là Phong trào Đông Du do cụ khởi xướng và lãnh đạo. Năm 1912, cụ Phan còn đề xướng thành lập Việt Nam Quang phục hội - một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa dân chủ với mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam Cộng hòa dân quốc. Theo cụ Phan, Nhà nước này, không giống kiểu nhà nước “Mãn triều Trung Quốc và Nguyễn triều Việt Nam”. Sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc của cụ Phan tuy không thành, nhưng cụ để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thiết tha và ý chí giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến. Đặc biệt, cụ Phan đã để lại cho chúng ta một di sản văn hóa quí giá, trong đó có những bài học về phương pháp cách mạng, phương pháp tuyên truyền lòng yêu nước cho nhân dân ta.

   II. Tấm gương sáng về hoạt động tuyên truyền của Hồ Chí Minh

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nối những bài học tuyên truyền cách mạng của cụ Phan. Trên đường vào Nam khi dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đã noi gương cụ Phan, tiếp tục tuyên truyền tinh thần yêu nước cho nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ ở cực Nam Trung Bộ. Nguyễn Tất Thành đã vào thư viện trường đọc nhiều sách, trong đó có sách của Phan Bội Châu, Lương Khải Siêu. Nguyễn Tất Thành có thêm nhiều tri thức, kinh nghiệm, tạo thêm sức mạnh và niềm tin trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước của mình... Từ đó, công tác tuyên truyền luôn luôn đặt ở vị trí quan trọng, hàng đầu và gắn chặt với sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi ra nước ngoài, trước hết ở Pháp và với hơn 30 nước khác trên thế giới, khoảng 20 vạn km đã đi qua, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minhluôn coi trọng và tích cực tuyên truyền với nhiều hình thức, trong đó có thơ, văn, báo chí. 

    Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Quyền của các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo ngày 18 tháng 6 năm 1919 đến tác phẩm cuối cùng Thư trả lời Tổng thống Mỹ đăng trên báo Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1969 thì Hồ Chí Minh đã để lại hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria năm 1922); Quốc tế nông dân (1924); Thanh niên (1925); Công nông (1925); Lính Kách mệnh (1925); Thân ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam độc lập (1941); Cứu quốc (1942). Đặc biệt, sau thời gian ngắn Đảng ta ra đời, ngày 01 tháng 8 năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã có tài liệu kêu gọi nhân dân ta chống chiến tranh phát xít, ủng hộ hòa bình thế giới. Ngày đó (01/8/1930), nay trở thành Ngày truyền thống của ngành Tư tưởng, Văn hóa - ngành Tuyên giáo của Đảng.

    Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh, với vốn hiểu biết văn hóa Đông, Tây và ngoại ngữ sâu rộng, viết rất nhiều bài báo bằng tiếng nước ngoài, như: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc… tạo nên những tác phẩm báo chí xuất sắc.

   Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một kho tàng đồ sộ, phong phú, bao gồm nhiều thể loại như chính luận, tiểu phẩm, truyện, ký và thơ… Ở thể loại nào, Người cũng có những tác phẩm đặc sắc, thể hiện là cây bút hàng đầu.

   Về nội dung viết thể loại chính luận, theo Người chỉ có một “đề tài” là: Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người coi đó là duyên nợ của mình với báo chí. Sự nhận thức nhất quán về nội dung mục tiêu đã lựa chọn ấy, là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho Người viết nên những tác phẩm báo chí kiệt xuất, cũng như những văn kiện lịch sử hào hùng về cách mạng Việt Nam, mà nay trở thành những bảo vật Quốc gia: Bản Tuyên ngôn độc lâp (2/9/1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946), Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước (17/7/1966), Di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh (10/5/1969),…

   Về tiểu phẩm, Người đã có hàng trăm bài viết bằng nhiều thứ tiếng, như Pháp, Anh, Trung Quốc… Những tiểu phẩm Người viết bằng tiếng Pháp, như: Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (Nhân đạo 24/6/1922); Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Người cùng khổ, số 36,37, tháng 9,10, năm 1925); kịch Con rồng tre v.v… Chỉ tính riêng trên báo Nhân dân từ năm 1950 đến năm 1969, Người đã viết 1.200 bài tiểu phẩm. Đặc biệt, trong đó về đề tài chống quan liêu, tham nhũng kể cả dưới chế độ thực dân lẫn dưới chế độ ta, Hồ Chí Minh đã viết 163 bài.

    Về truyện và ký, Hồ Chí Minh là cây bút lớn có hàng trăm bài viết, trong đó đáng chú ý là lúc đang hoạt động ở Pháp, vào những năm 20 của thế kỷ XX. Bằng nghệ thuật ngôn từ bậc thầy, Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa vốn tri thức của nhân loại với văn hóa dân tộc, văn hóa phương Đông và phương Tây đã tạo nên những ấn phẩm bài viết của mình kiệt tác.

    Nền báo chí Việt Nam, in đậm dấu ấn lịch sử bằng sự kiện Hồ Chí Minh sáng lập ra tờ báo Thanh niên (21/6/1925) khi Người đang hoạt động cách mạng ở  Quảng Châu, Trung Quốc. Và, khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1941), Người đã sáng lập, tổ chức hoạt động tờ Việt Nam độc lập, tiếp đó, năm 1942, Người tổ chức thành lập báo Cứu quốc. Sau khi giành chính quyền năm 1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, do trách nhiệm nặng nề đối với cách mạng, với Nhân dân, Người không trực tiếp lãnh đạo các tòa soạn báo, nhưng Người liên tục viết rất nhiều bài cho các báo: Sự thật, Cứu quốc, Nhân dân, Vệ quốc quân, Tập san sinh hoạt nội bộ…

   Hồ Chí Minh đã viết nhiều thể loại báo chí. Mỗi bài báo, Người thường dùng những văn phong dân giã, dễ nhớ và dễ làm theo. Thể loại nào cũng hay, xuất sắc. Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ động và sáng tạo sự kết hợp giữa báo chí với văn học và nhiều hoạt động tinh thần khác. Cho đến nay, phần lớn những bài báo của Bác Hồ vẫn có sức sống và mới mẻ, vẫn có tác động với hiện tại. Bởi vì, Người đã biết kết hợp được tính thời sự với tính chất lâu dài bền vững ở các bài báo; giữa yêu cầu thực tiễn và tính lý luận sắc sảo, giữa cứ liệu vững chắc với nhận định sáng suốt; giữa tính dân tộc với tính thời đại; giữa nội dung với hình thái biểu hiện…

III. Nhiệm vụ tuyên truyền hiện nay.

Bà Nguyễn Thị Thu Hường - UV Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tặng Giấy khen

cho đại diện các ban Tuyên giáo có thành tích xuất sắc trong công tác Tuyên giáo năm 2018

Kỷ niệm 89 năm, Ngày Tư tưởng, Văn hóa của Đảng (01/8/1930-01/8/2019) là dịp để chúng ta ôn lại, học tập và làm theo cách tuyên truyền của cụ Phan, đặc biệt là hoạt động tuyên truyền cách mạng của Hồ Chí Minh. Đây là một yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng, hàng đầu, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

Trong tình hình thế giới những năm gần đây đầy biến động, phức tạp và khó lường. Đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển ngày càng rộng và sâu, cách mạng nước ta, tuy có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức; sự phát triển chóng mặt của cuộc cách mạng 4.0, của Công nghệ thông tin; sự tuyên truyền phản động tinh vi, trắng trợn của các lực lượng thù địch trong và ngoài nước đối với cách mạng nước ta; sự thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng… của một phận có chức có quyền đã dẫn đến tự chuyển hóa, “tự diễn biến hòa bình” hết sức nguy hại cho cách mạng nước ta… Vì vậy, đòi hỏi những người làm công tác tuyên truyền phải không ngừng học tập và làm theo gương tuyên truyền cách mạng của các bậc tiền bối cách mạng, đặc biệt là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa.

   Thiết nghĩ để công tác tuyên truyền, công tác tuyên giáo trong bối cảnh hiện nay đạt hiệu quả cao, đội ngũ những người làm công tác này cần chú ý:

1. Luôn luôn nhận thức tầm quan trọng hàng đầu của công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng, văn hóa, công tác lý luận.

2. Quán triệt nội dung, mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền đối với yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra.

3. Bám sát tình hình thực tiễn, nắm chắc đặc điểm đối tượng tuyên truyền. Thường xuyên đổi mới phương thức, phương pháp tuyên truyền, kết hợp và sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp (chú ý phương pháp sư phạm) với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, hấp dẫn, thiết thực, đặc biệt là hình thức viết, nói, sân khấu hóa… nhằm đạt hiệu quả cao.

4. Không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tuyên truyền trong tình hình mới. Coi trọng việc nâng cao trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin phục vụ công tác truyên truyền. Thường xuyên rèn luyện, tự học, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động tuyên truyền trong tình hình mới hiện nay.

5. Bám sát thực tiễn, phát hiện gương người tốt, việc tốt, kịp thời nêu gương và phát huy tác dụng. Kiên quyết đấu tranh phê phán, ngăn chặn và loại trừ những biểu hiện tiêu cực, phản động trong và ngoài nước, đồng thời chỉ ra những hạn chế, tiêu cực để phê phán và khắc phục…góp phần ổn định và thúc đẩy kinh tế -  xã hội phát triển.

6. Giữ vững và phát huy các giá trị có tính nguyên tắc của hoạt động tuyên truyên cách mạng, xây dựng lập trường chính trị vững vàng; Thường xuyên giáo dục và tự giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người làm công tác Tuyên giáo trong tình hình hiện nay.

7. Nghiên cứu, học tập và làm theo gương tuyên truyền của các bậc tiền bối, đặc biệt, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và công tác tuyên truyền của Người nói riêng là trách nhiệm và yêu cầu cao đối với ngành Tuyên giáo hiện nay.

Công tác tuyên truyền làm tốt sẽ có ý nghĩa thiết thực và quan trọng, tạo thêm niềm tin, động lực thúc đẩy sự nghiệp Tuyên giáo phát triển, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới xây dựng và  bảo vệ đất nước Việt Nam ngày càng văn minh, giàu đẹp./.

 

                                                                                                                   B.Đ.S

 

MỤC LỤC SỐ 393 NĂM 2019

Thứ hai, 29 Tháng 7 2019 09:23 Chuyên mục: Tổng mục lục
  1. XÃ LUẬN

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

10/7/2019

Trung Quốc càng lấn tới mỗi khi chúng ta nhân nhượng!

Vĩnh Khánh

  1. VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG

 

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

10/7/2019

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị trường tồn

Bùi Đình Phong

2

Di chúc lịch sử - Áng văn tuyệt bút

Đặng Công Thành

3

Lá thư cuối cùng của Bác và bài học “vì Dân” cho Nghệ An

Trang Đoan

4

Trung Quốc bị phê phán đích danh xâm phạm chủ quyền của Việt Nam

Hàn Diệu Mi

5

Bác bỏ luận điệu “Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘lãng tử hồi đầu’

Hồ Anh Hải

                            

2. KHÁCH MỜI TẠP CHÍ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Di chúc - văn liệu quan trọng về tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mạch Quang Thắng

 

 

 

 

 

 

 

3. ĐẤT & NGƯỜI XỨ NGHỆ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Đền Thần Trù Hồng Long - các sắc phong thần và những kiến nghị

Đào Tam Tỉnh

Bùi Đình Sâm

2

Nghệ thuật múa khèn của người Mông ở Nghệ An

Hoàng Hướng

 

4. NHỮNG GÓC NHÌN VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ

Hồ Bạch Thảo

 

 

5. DIỄN ĐÀN VĂN HOÁ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Văn hóa ứng xử chốn quan trường: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”

Nguyễn Duy Xuân

 

6. CỬA SỔ VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Quan điểm của ASEAN về khu vực Ấn Thái Dương

Đinh Hoàng Thắng

 

 

7. VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Thầy Nguyễn Lộc của tôi

Trần Nho Thìn

 

8. XỨ NGHỆ NGÀY NAY

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

393

25/7/2019

Công tác dân vận theo Tư tưởng Hồ Chí Minh - Nhìn từ Nghệ An

Nguyễn Thị Loan

Phạm Thị Lan Hương

 

2

Nghệ An thực hiện chính sách đối với thương binh liệt sĩ và người có công theo Di chúc Bác Hồ

Anh Tuấn

3

Di chúc Bác Hồ và bài học về quan tâm, bỗi dưỡng thế hệ trẻ

Mỹ Dịu

4

Nam Đàn phấn đấu trở thành huyện Nông thôn mới kiểu mẫu

Thúy Hoa

5

Thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ theo Di chúc Bác Hồ

Kiều Nga

6

Những người trông coi Khu mộ bà Hoàng Thị Loan

Hoàng Nguyên

7

Cần có cái nhìn sâu rộng hơn về xây dựng nông thông mới hiện nay

Trang Tuệ

8

Trải nghiệm ngược trong phát triển du lịch cộng đồng

Bùi Hào

 

 

Tổng thống  Ukraina Vladimir Zelensky

Tổng thống đắc cử của Ukraina Vladimir Zelensky đã có phản ứng sau khi người đồng nghiệp của mình - Tổng thống LB Nga Vladimir Putin tuyên bố về việc Nga sẽ ồ ạt cấp hộ chiếu cho các công dân Ukraina ở Donbass. Tuyên bố trả lời này được đăng trên các báo của Ukraina.

Sau đây là bản dịch toàn văn bài của Zelensky:

“Về những tuyên bố của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin (liên quan đến việc LB Nga thông qua đạo luật đơn giản hóa việc cấp hộ chiếu của nước mình cho các công dân Ukraina tại Donbass - ND), tôi xin có ý kiến như sau:

Thứ nhất, tôi sẽ không khuyên chính quyền Nga lãng phí thời gian để cố gắng cám dỗ công dân Ukraina bằng hộ chiếu của Liên bang Nga. Có thể là sẽ tìm được người nào đó bị mù quáng bởi việc tuyên truyền. Có thể có ai đó làm việc này (nhận hộ chiếu Nga - ND) vì mục đích kiếm sống hoặc chạy trốn việc điều tra hình sự. Chúng tôi thậm chí có thể cung cấp cho ông Vladimir Putin danh sách các công dân Ukraina, những người trong thời gian tới sẽ rất khó sống ở đất nước mà họ đã cướp phá một cách trắng trợn, lạm dụng chức vụ và quyền hạn của mình. Hãy để cho nước Nga quyết định một lần nữa, chọn nơi nào mà họ cần hơn cả những “chuyên gia” này - là ở Rostov hay Magadan.

Nhưng sự khác biệt của Ukraina, tôi muốn nhấn mạnh, nằm ở chỗ: chúng tôi, người Ukraina, có các quyền tự do ngôn luận, có phương tiện truyền thông tự do, và có Internet (chứ không phải Runet - ND) ở nước mình. Do đó, chúng tôi biết rất rõ những gì mà hộ chiếu của LB Nga thực sự có thể mang lại cho công dân của họ. Đó là quyền bị bắt giữ vì tham gia phản đối một cách hòa bình. Đó là quyền không được có các cuộc bầu cử trên nguyên tắc tự do và cạnh tranh. Đó là quyền buộc phải quên hẳn đi sự tồn tại của tất cả các quyền và tự do hiển nhiên của con người. Do đó, không nên hy vọng rằng có nhiều người Ukraina sẽ muốn trở thành một loại “dầu mỏ mới”, mà chính quyền Nga đang cố gắng biến người dân của họ thành thứ này.

Người Ukraina là những người tự do trong một đất nước tự do. Đất nước độc lập, có chủ quyền và không thể chia cắt. Quốc tịch Ukraina - đó là tự do, nhân phẩm và danh dự. Đó là những gì mà chúng tôi đã chiến đấu để bảo vệ, đang bảo vệ và chúng tôi sẽ bảo vệ. Ukraina sẽ không từ bỏ sứ mệnh của mình - làm một tấm gương về dân chủ cho các nước hậu Xô Viết noi theo. Và một phần của sứ mệnh này sẽ là việc che chở bảo vệ, cho phép tị nạn và cấp quyền công dân Ukraina cho tất cả những ai sẵn sàng đấu tranh cho tự do. Chúng tôi sẽ cấp quyền tị nạn chính trị và giúp đỡ cho tất cả những ai sẵn sàng kề vai sát cánh chiến đấu cùng chúng tôi vì sự tự do của chúng tôi và của các bạn.

Chúng tôi sẽ cấp quyền công dân Ukraina cho đại diện của tất cả các dân tộc bị chế độ độc tài và tham nhũng áp bức. Trước hết là các công dân nước Nga, những người mà hôm nay đang phải chịu đựng nhiều đau khổ hơn ai hết.
Không nên nói chuyện với Ukraina và người dân Ukraina bằng ngôn ngữ đe dọa, áp lực quân sự và kinh tế. Đây không phải là con đường tốt nhất để đi đến ngừng bắn và thực thi Thỏa thuận Minsk.

Tôi nhấn mạnh một lần nữa rằng, tôi đã sẵn sàng cho các cuộc đàm phán. Tôi hy vọng rằng tại cuộc gặp tới đây trong khuôn khổ định dạng Normand, LB Nga sẽ thể hiện thiện chí cho việc xuống thang. Minh chứng cụ thể cho sự sẵn sàng này phải là sự trao trả các công dân đôi bên (trao trả tù binh - ND) theo thể thức: "tất cả lấy tất cả". Không có ngoại lệ. Từ phía mình, chúng tôi sẵn sàng thảo luận về các điều kiện mới cho sự cùng tồn tại của Ukraina và Nga. Với sự thông hiểu rằng, việc bình thường hóa quan hệ thực sự sẽ chỉ xảy ra sau khi hủy bỏ hoàn toàn sự chiếm đóng lãnh thổ. Cả Donbass, cả Crưm. Ukraina không đầu hàng! Theo mọi ý nghĩa của từ này.

Nhưng tôi hy vọng rằng nước Nga càng ngày càng có thiện chí đàm phán hơn là nã đại bác và bắn tên lửa.

Tôi thực sự không phải Chúa Trời để những mong muốn của mình trở thành hiện thực. Nhưng tôi cũng nhớ rằng, sẽ đến lúc tất cả các quan chức hữu trách phải có câu trả lời trung thực cho hành vi của họ chính ngay trước Ngài. Không ai có thể bay thẳng lên Thiên đàng. Đầu tiên sẽ phải qua Đại tòa.

Để hiểu đầy đủ và nhất quán về quan điểm của tôi, tôi cũng xin được cập nhật văn bản này bằng cả tiếng Nga, để tất cả đều có thể nghe thấy chúng tôi.”

                                                                                                  Vũ Chân dịch

Nguồn:

https://www.obozrevatel.com/…/ya-gotov-k-peregovoram-zelens…

https://www.segodnya.ua/…/pasportizaciya-okkupirovannogo-do…

 

Nghệ An chào mừng năm mới 2019

Thứ ba, 01 Tháng 1 2019 13:27 Chuyên mục: Tin tức

Chương trình nghệ thuật Chào năm mới 2019 sôi động diễn ra tại Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ (TP. Vinh) vào 21h ngày 31/12/2018với 3 phần: Bức tranh quê hương, Khúc Xuân và countdown.

Mục lục số 378 (10.12.2018)

Chủ nhật, 16 Tháng 12 2018 09:30 Chuyên mục: Tổng mục lục
  1. XÃ LUẬN

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Ngăn ngừa là biện pháp hàng đầu để chống tệ nạn bạo hành và dâm ô

Vĩnh Khánh

  1. VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Quyền và lương tâm

Bùi Đình Phong

 

2. KHÁCH MỜI TẠP CHÍ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Nhân văn bị trói buộc sẽ kìm hãm con đường tiến lên văn minh của dân tộc

Nguyễn Ngọc Chu

Trả lời PV

 

3. ĐẤT & NGƯỜI XỨ NGHỆ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Bước đầu tìm hiểu văn khắc của đền Thống Chinh

Tống Trần Tùng

 

4. NHỮNG GÓC NHÌN VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Phượng hoàng thì phục sinh, sư tử thì gầm rống

Đỗ Lai Thúy

 

2

 

 

 

 

Biển Đông 2018-2019: Thời của các hàng không mẫu hạm

Thành Đỗ &

 Hải Đăng

 

 

5. DIỄN ĐÀN VĂN HOÁ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Để bình đẳng, phụ nữ trước hết phải nhận thức đúng giá trị của mình

Trang Đoan

 

 

6. CỬA SỔ VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Trung - Mỹ thỏa hiệp bên lề G20: Hai bên “hưu chiến” chứ không phải “ngừng chiến”

Nhuận Quảng Trí

 

7. VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Triết lý - Tư tưởng của Nhà giáo Văn Như Cương trong giáo dục

Hồ Bất Khuất

 

 

8. XỨ NGHỆ NGÀY NAY

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

378

10/12/2018

Nạn nhân bạo lực không im lặng: Nếu chúng ta đủ nhạy cảm, nếu chúng ta nhìn vào mắt, nghe bằng tim chứ không chỉ bằng tai

Hoàng Tú Anh &

Bùi Hào

2

Thấy gì qua các vụ án xâm hại tình dục trẻ em?

Ngọc Mai

3

Giáo dục giới tính cho trẻ em: Cần sự quan tâm của cả cộng đồng

Kiều Nga

4

Nạn buôn bán phụ nữ và nỗi lo của người dân Đôn Phục

Bùi Hào

5

Bình đẳng giới nhìn từ hương ước, quy ước

Thúy Hoa

6

Phòng chống bạo lực gia đình: Những cách làm hay ở Phú Liên

Anh Tuấn

 

Tiến hành cuộc chiến tranh với Việt Nam vào tháng 2-1979, Trung Quốc tuyên bố đó là một chiến tranh “phản kích”, nhằm “đánh đuổi quân Việt Nam ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc”. Ngay ngày 17 tháng 2, nhằm che đậy tính chất xâm lược của cuộc chiến, trong bản tuyên bố trên Tân Hoa Xã, Bắc Kinh khẳng định cuộc tấn công Việt Nam là phản kích tự vệ trước việc Việt Nam xâm lấn lãnh thổ và gây thiệt hại cho dân cư Trung Quốc[1]. Theo như mô tả của Bắc Kinh thì “cuộc chiến tranh tự vệ” này buộc phải xảy ra bởi Việt Nam thường xuyên có các hoạt động “khiêu khích vũ trang và thù nghịch” tại các khu vực biên giới giữa hai nước. Khẳng định “phản kích” Việt Nam, thực hiện cuộc tấn công ‘trừng phạt” là nhằm bảo đảm cho một “biên giới hòa bình và ổn định”, Trung Quốc muốn nhấn mạnh rằng, tranh chấp biên giới là vấn đề cốt lõi của toàn bộ cuộc chiến. Tuy nhiên, cho đến trước năm 1975, vấn đề biên giới tuy có tồn tại giữa hai nước, nhưng nó chưa được đẩy lên đến mức độ xung đột. Hơn thế, từ năm 1975, mâu thuẫn giữa hai nước xung quanh các vấn đề về lãnh thổ có trầm trọng thêm, song cũng chưa đến mức phá vỡ quan hệ hai nước. Theo nhà nghiên cứu Gareth Porter, thì “tổng diện tích lãnh thổ mà hai bên có tranh chấp như Trung Quốc nêu lên thì chỉ có 60 km2”[2]. Thực tế cho thấy rằng, nếu không xảy ra những sự kiện khác, thì vấn đề biên giới vẫn được hai bên nén xuống với một thái độ khá kiềm chế và bình tĩnh, khiến cả người trong cuộc lẫn ngoài cuộc đều nhận rõ một hiện thực sáng rõ là nó hoàn toàn có thể giải quyết được thông qua thương lượng hòa bình. Hơn thế, những xung đột biên giới tăng dần theo cấp số cộng lại chỉ là do Trung Quốc gây ra: Năm 1974 có 179 vụ Trung Quốc lấn chiếm biên giới của Việt Nam, năm 1975 có 294 vụ, năm 1977 tăng lên 810 vụ - vậy thì, cuộc chiến này có thực là “tự vệ”, có thực là “phản kích”?