Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Người cực giàu có giỏi hơn người khác? Và có xứng đáng với cái tài sản hay lợi tức của họ?

 

 Trước nhất, vài định nghĩa lý thuyết: Cấu trúc dân số theo lợi tức

Thông thường, các nhà kinh tế xã hội, khi nghiên cứu về giàu nghèo,  xếp hạng dân tình theo lợi tức. Một bảng thứ nhì theo gia sản.

Theo lợi tức, mức trung lưu, revenu médian - cho toàn thể dân, ở Pháp,  là khoảng 1700 euro mỗi tháng ( ở Bỉ thì 1800€)sau khi trừ thuế và trừ các bảo hiểm xã hội.

Nói cách khác, lợi tức của một người trên hai dưới mức đó. Còn người kia thì lương trên mức đó.

Nếu lợi tức kém hơn 50% của số này là thuộc diện nghèo. Ngược lại, nếu ai đó lương tháng gấp đôi số này thì được xếp vào hạng giàu.

Như vậy, định nghĩa giàu nghèo rõ ràng.

Một các khái quát, số người nghèo trong xã hội Pháp, Bỉ là khoảng 10%. Số người giàu cũng khoảng 10%.

1% của dân số thuộc hạng cực giàu. Những người trong số này vẫn chưa là những người được tạp chí Forbes xướng tên. Forbes xếp hạng dựa trên gia sản nhiều hơn là trên lợi tức – dù rằng hai tiêu chí này thường đi đôi -

Thông thường cho giới cực giàu,  lương  phải hơn 7000 €/tháng – tức là gấp đôi của mức giàu ( và gấp bốn lương trung lưu hay gấp tám mức nghèo).

Người cực giàu có giỏi hơn người khác ?

Thí dụ của Steve Jobs (Apple) có thể không chỉnh, trước khi mất ông chỉ nhận một dollar tượng trưng cho lương tháng nhưng đừng quên là gia sản của ông lên đến 2 tỉ đô la.

Nhưng thí dụ của Bernard Arnault, chủ của Louis Wuiton, một trong mười người giàu nhất thế giới, có thể cho ta một khái niệm và hiện thực về độ giàu. Lương ông mỗi năm trên 4 triệu đô la cộng thêm vào tiền lời mà ông được chia, khoảng hơn 400 triệu nữa. Nghĩa là mỗi năm lợi tức của ông tròm trèm nửa tỉ đô la.

Ông có xứng đáng với cái giàu của ông không ?

Trong một bài báo, đăng trên một tạp chí khoa học về kinh tế, Gregory Mankiw, giáo sư Harvard, cựu cố vấn của Tổng thống George W. Bush, đã cho rằng những người cực giàu xứng đáng với lương và lợi tức họ. Họ là những người được thừa hưởng từ cha mẹ những tài năng xuất chúng, họ đã làm tăng «sản xuất», ít nhất là lợi tức  cho xí nghiệp họ nhờ tài quản lý hay nhờ có những quyết định hợp thời.

Quyết định thức thời, có thể. Như quyết định của Louis Wuiton đi chiếm các thị trường ở châu Á.

Nhưng trong cái làm giàu của một số xí nghiệp – để trả lương cao cho một số người cực giàu – có những chi tiết mà không hoàn toàn tùy thuộc vào tài năng của giới lảnh đạo nhận lương cao.

Trường hợp của Steve Jobs chẳng hạn. Ông đã «thức thời» trình tòa những patents của Apple, giúp Apple tư thế độc quyền để làm giàu nhưng sự độc quyền này cản trở phát triển kỷ thuật của nhiều xứ và nhiều người -

Louis Wuitontràn vào thị trường Trung Quốc và cả thị trường Việt Nam hay của một số nước đang mở mang, thật tốt cho thương hiệu nhưng thật sự họ thành công nên được nhờ tiếp thị khôn khéo và nhờ, trong chừng mực nào đó, sự đua đòi hay thiếu suy nghĩ của tầng lớp mới giàu của các thị trường này. Chứ không hoàn toàn nhờ tài ba của người đứng đầu thương hiệu.

Ít nhất, đó là phản biện của Guillaume Allègre, một kinh tế gia người Pháp, giáo sư Trường Khoa học Chính trị, Paris.

Tức là hoàn cảnh xã hội cũng là một yếu tố của thành công chứ không hoàn toàn là do công sức hay tài ba của một số lảnh đạo xí nghiệp,

.....................

Tài liệu tham khảo:

. Gregory Mankiw, « Defending the one percent », Journal of Economic Perspectives, vol. XXVII, n° 3, 2013.

. Guillaume Allègre, « Comment peut-on défendre les 1 % ? », Note de l’OFCE, n° 28, 5 juillet 2013.